MỤC LỤC

Nội dung Mục lục Phần mở đầu I- Lý do chọn đề tài 1. Cơ sở lý luận 2. Cơ sở thực tiễn II- Mục đích nghiên cứu III- Nhiệm vụ của đề tài IV- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu 2. Phạm vi nghiên cứu 3. Thời gian thực hiện V- Phương pháp nghiên cứu 1. Phương pháp thực tiễn 2. Phương pháp kiểm tra, đánh giá Phần nội dung I- Nội dung nghiên cứu 1. Định hướng chung 2. Phân loại bài tập và phương pháp giải bài tập II- Kết quả nghiên cứu và triển vọng của đề tài Phần kết luận Nhận xét của tổ chuyên môn Nhận xét của Hội đồng nhà trường Tài liệu tham khảo

Trang 1 2 2 2 2 3 3 3 3 3 3 3 3 3 5 5 5 6 17 18 19 20 22

1

PHẦN MỞ ĐẦU I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận Giữa bài tập và lý thuyêt học trên lớp có một khoảng cách nhất định. Học sinh học tốt lý thuyết chưa chắc học sinh đã vận dụng để làm được bài tập. Vậy hướng dẫn giải bài tập giúp các em có kỹ năng giải quyết vấn đề trong các tình huống cụ thể. Các vấn đề học sinh nghiên cứu và hiểu được vấn đề cũng là một trong những yếu tố giúp học sinh hứng thú hơn trong học tập bộ môn. Kiến thức học tập của môn học rất rộng, trước nhiều bài toán có rất nhiều định hướng và có nhiều kiến thức liên quan. Nếu sự định hướng của học sinh không đúng thì làm cho các em mất rất nhiều thời gian và khó giải quyết được các bài toán. Vì vậy việc phân loại các bài toán và đưa ra một số định hướng giúp các em có cái nhìn cụ thể hơn. Giúp các em giải quyết được bài toán nhanh hơn. Khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế nên việc hướng dẫn các em giải bài tập giúp các em rèn luyện khả năng tư duy. Để học tập môn Vật lý đạt kết quả cao thì ngoài việc nắm vững lý thuyết cần phải biết ứng dụng lý thuyết vào giải bài tập một cách thành thạo nhưng để giải bài tập thành thạo thì việc định hướng, phân loại bài tập là vô cùng cần thiết. 2. Cơ sở thực tiễn Trong môn Vật lý ở trường trung học cơ sở, bài tập Cơ học tương đối khó đối với học sinh. Trong phần Cơ học thì bài tập về đòn bẩy có nhiều dạng nhất trong các máy cơ đơn giản. Làm thế nào để giải bài tập về đòn bẩy một cách đơn giản hơn? Đó là câu hỏi đặt ra không chỉ đặt ra đối với riêng tôi mà là câu hỏi chung cho những giáo viên và học sinh muốn nâng cao chất lượng dạy và học. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại sách bài tập nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh nhưng qua tham khảo một số sách tôi nhận thấy, đa phần các sách này đều đưa ra các bài tập cụ thể và hướng dẫn giải. Các bài tập thuộc nhiều dạng khác nhau được đặt kế tiếp nhau, các bài tập cùng loại lại đặt cách xa nhau hoặc trong một quyển sách không có đủ các dạng bài tập cơ bản về đòn bẩy. Nói chung là các sách viết ra chưa phân loại các dạng bài tập một cách cụ thể. Chính vì cách viết sách như vậy dẫn đến việc các giáo viên trong quá trình giảng dạy rất mất nhiều thời gian cho việc đầu tư trong một tiết dạy, còn học sinh làm bài tập một cách tràn lan và làm bài nào biết bài đó, không có phương pháp giải chung nên kết quả học tập chưa đạt hiệu quả cao. Việc học tập trở nên khó khăn hơn và gây cho các em có nhiều nản chí khi muốn tự nâng cao kiến thức của mình.

2

Nêu bật được trọng tâm của máy cơ đơn giản thông qua các bài toán về đòn bẩy. V. Thời gian thực hiện Năm học 2012 – 2013. qua nhiều năm công tác với những hiểu biết và chút kinh nghiệm của bản thân. không phân loại rõ ràng.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong quá trình nghiên cứu và làm đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 1. Ngoài ra. 2. Phạm vi nghiên cứu Đề tài được thực hiện với học sinh một số lớp ở khối 8 trường THCS Bồ Sao 3. Đối tượng nghiên cứu Phương pháp giải bài tập Vật lí. II . tôi mạnh dạn nêu lên một số suy nghĩ của mình về: “Phân loại và phương pháp giải bài tập về đòn bẩy” với mong muốn hoạt động dạy và học của giáo viên cũng như học sinh sẽ thu được kết quả cao hơn. dễ học hơn trong việc tự học. đánh giá. các bài tập có trong sách là các bài tập thuộc nhiều thể loại khác nhau nhưng lại không theo hệ thống. III. tự tìm tòi nghiên cứu. Ngoài ra việc tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức của học sinh trong khi tham khảo sách cũng chưa đạt hiệu quả cao. IV. Vì vậy việc tự nghiên cứu và giải các bài tập có nhiều khó khăn.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. 3 . Phương pháp kiểm tra.Vì lý do trên. Phương pháp thực tiễn Trong quá trình giảng dạy và tự bồi dưỡng kiến thức tôi nhận thấy có rất nhiều sách nâng cao. Do vậy tôi cho rằng cần phải có phương pháp giải chung cho một loại toán.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Việc nghiên cứu đề tài “Phân loại và phương pháp giải bài tập về đòn bẩy” nhằm giúp giáo viên giảng dạy có hệ thống và có hiệu quả hơn. Ngoài ra còn giúp người học dễ xem. loại bài tập để giúp người dạy cũng như người học có định hướng giải nhanh mà không phải tư duy nhiều. 2.NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI Đưa ra các kiến thức cơ bản về đòn bẩy. cũng muốn tạo ra hướng đi mới trong việc tham khảo các loại sách bài tập nâng cao.

4 .Với phương pháp này tôi có thể tiến hành dưới hai dạng kiểm tra với mục đích nắm bắt sự nhận thức kiến thức của học sinh và kỹ năng làm bài tập của học sinh. a) Kiểm tra miệng b) Kiểm tra thực tế Giáo viên giảng một tiết không phân loại bài tập và một tiết phân loại bài tập ở hai lớp khác nhau. Cuối cùng so sánh kết quả nắm bài và kỹ năng làm bài tập của học sinh sau hai giờ dạy.

cần phải phân tích cụ thể như : * Đâu là điểm tựa của đòn bẩy? Việc xác định điểm tựa cũng không đơn giản vì đòn bẩy có nhiều loại như: Điểm tựa nằm trong khoảng hai lực (Hình A) O F1 Hình A Điểm tựa nằm ngoài khoảng hai lực (Hình B) F1 O F2 F2 Hình B Ngoài ra trong một bài toán về đòn bẩy còn có thể có nhiều cách chọn điểm tựa ví dụ như hình C B T A O F Hình C Ta thấy. Khi đã hiểu rõ các khái niệm thì việc tiến hành giải bài toán sẽ thuận lợi hơn.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. 5 . Định hướng chung Bài tập về đòn bẩy rất đa dạng nhưng để làm các bài tập đó trước tiên người học phải nắm vững được các khái niệm cơ bản như: Khái niệm đòn bẩy. cánh tay đòn của lực. hình C có thể chọn điểm tựa tại điểm B khi này có hai lực tác dụng lên đòn bẩy đó là lực F tại điểm O và lực thứ hai là lực căng T tại điểm A.PHẦN NỘI DUNG I . người học cũng phải biết xác định các lực tác dụng lên đòn bẩy và nắm được điều kiện cân bằng của đòn bẩy. Với mỗi bài toán về đòn bẩy. Ngoài việc nắm vững khái niệm.

lúc này theo quy tắc cân bằng của đòn bẩy ta có: 6 . a) Khi tác dụng một lực F = 100N vuông góc với OB tại đầu B ta sẽ nhổ được đinh.10 = 1000 N  FC = OA b) Nếu lực F’ vuông góc với tấm gỗ. Theo quy tắc cân bằng của đòn bẩy ta có: FC . * Các lực tác dụng lên đòn bẩy có phương chiều như thế nào? * Xác định cánh tay đòn của các lực Theo định nghĩa : “ Khoảng cách giữa điểm tựa O và phương của lực gọi là cánh tay đòn của lực”. b) Nếu lực tác dụng vào đầu B vuông góc với tấm gỗ thì phải tác dụng một lực có độ lớn bằng bao nhiêu mới nhổ được đinh? * Phương pháp : B Xác định cánh tay đòn của lực F và FC F ’ F Vì FC vuông góc với OA nên OA là cánh tay đòn của FC O A a) Vì F vuông góc với OB H nên OB là cánh tay đòn của F FC b) Vì F có phương vuông góc với mặt gỗ nên OH là cánh tay đòn của F’ sau khi đã xác định đúng lực và cánh tay đòn của lực ta áp dụng điều kiện cân bằng của đòn bẩy và tính được các đại lượng cần tìm Lời giải: a) Gọi FC là lực cản của gỗ.Cũng có thể chọn điểm tựa tại điểm A khi này cũng có hai lực tác dụng lên đòn bẩy là lực kéo F tại điểm O và phản lực tại B. Phân loại bài tập và phương pháp giải bài tập Bài tập về “Đòn bẩy” có rất nhiều loại cụ thể có thể chia ra làm nhiều loại như sau: Loại 1: Xác định lực và cánh tay đòn của lực Bài toán1: Người ta dùng một xà beng có dạng như hình vẽ để nhổ một cây đinh cắm sâu vào gỗ. Tính lực giữ của gỗ vào đinh lúc này ? Cho biết OB bằng 10 lần OA và α = 450. 2. Trên thực tế học sinh rất hay nhầm cánh tay đòn với đoạn thẳng từ điểm tựa đến điểm đặt của lực.OB F . Việc xác định cánh tay đòn của lực rất quan trọng vì nếu xác định sai sẽ dẫn đến kết quả sai.10 = 100 N . OA = F.OB = F . Sau khi phân tích có thể áp dụng điều kiện cân bằng của đòn bẩy để giải bài toán.

Tìm phần bị cắt đi. Để thanh nằm ngang người ta thực hiện hai biện pháp sau: a) Cắt một phần của thanh thứ nhất và đem đặt lên chính giữa của phần còn lại. b) Cắt bỏ một phần của bản thứ nhất. Do đó được đặt lên chính giữa của phần còn lại nên trọng lượng của bản thứ nhất không thay đổi Vì thanh nằm cân bằng nên ta có: l−x l P.25 d2. 1 2 2 l 7 . + Ở biện pháp 1: Vì cắt một phần của bản thứ nhất và lại đặt lên chính giữa của phần còn lại nên lực tác dụng không thay đổi.OH Với OH = OB ( vì ∆OBH vuông cân) 2 ⇒ F ' = OA. 100 2 Bài toán 2: Hai bản kim loại đồng chất tiết diện đều có cùng chiều dài l = 20cm và cùng tiết diện nhưng có trọng lượng riêng khác nhau d1 = 1. = P2 . + Ở biện pháp 2: Do cắt bỏ một phẩn của bản thứ nhất nên cả lực và cánh tay đòn của lực đều thay đổi. 2. Khi xác định được lực và cánh tay đòn của lực ta áp dụng điều kiện cân bằng của đòn bẩy vào giải bài toán: Lời giải: a) Gọi x là chiều dài phần bị cắt. 2 = OA .FC . Tìm chiều dài phần bị cắt.FC.OA Đ/S: 1000 N.OA = F’. l O * Phương pháp: Trong mỗi lần thực hiện các biện pháp cần xác định lực tác dụng và cánh tay đòn của lực. cánh tay đòn của lực này thì thay đổi. Hai bản được hàn dính lại ở một đầu O và được treo bằng sợi dây.1000 = 100 2 (N) OB 10.

Hãy xác định lực đỡ của tường lên các đầu xà FA A G B FB P 8 . Trọng tâm của xà cách đầu A một khoảng GA = 3 m. 2 2 x O ⇒ d1 (l-x) = d2(l) d ⇔ x = (1 − 2 )l d1 Với d1 = 1.25d2 l Vậy chiều dài phần bị cắt là: 4 cm b) Gọi y là phần bị cắt bỏ đi trọng lượng còn lại của bản là l−y P' = P .20 = (1 − 0. ta có: d1sl. l 2 2 d ⇒ (l − y)2 = 2 l 2 d1 d ⇔ y 2 − 2ly + (1 − 2 )l 2 = 0 d1 ⇒ y 2 − 40 y + 80 = 0 ∆’ = 400 – 80 = 320 => ∆ = 8 5 ≈ 17.Gọi S là tiết diện của mỗi bản.11 cm ĐS: 4 cm. 1 1 l l−y l = P2 .8)20 = 4 ⇒ x = (1 − 1.89 y1 = 20 + 8 5 > 20 cm y1 = 20 − 8 5 ≈ 20 – 17. l−x l = d2 sl. B lên hai bức tường. khối lượng 120 kg được tì hai đầu A. Do thanh cân bằng nên ta có: P ' . 2.11 cm Loại 2: Chọn điểm tựa của đòn bẩy Bài toán 1: Một chiếc xà không đồng chất dài l = 8 m.11 (cm) Vậy chiều dài phần bị cắt bỏ là 2.25 d2 l = 20 d2 ).89 = 2. 1 l 2 ⇒ d1s(l − y )( l − y ) = d2 sl.

Với loại toán này cần phải chọn điểm tựa .Để tính FA phải coi điểm tựa của xà tại B. Áp dụng điều kiện cân bằng của đòn bẩy cho từng trường hợp để giải bài toán. của bức tường đầu B là 350 FB. (N). GA 3 = 1200. FB và P. Cái sào chịu tác dụng của 3 lực TA. P Để tính FA ta coi xà là một đòn bẩy có điểm tựa tại B. A’ B’ Cho biết: AB = 1.4 m. TB và P.Do xà có hai điểm tựa (hai giá đỡ) xà chịu tác dụng của ba lực FA.Để tính FB phải coi điểm tựa của xà tại A. 350 (N) Bài toán 2: (Áp dụng) Một cái sào được treo theo phương nằm ngang bằng hai sợi dây AA’ và BB’.AB = P. FB. . ĐS: 750 (N). Bài giải: Trọng lượng của xà bằng: P = 10. Xà chịu tác dụng của 3 lực FA. Để tính TA coi sào như một đòn bẩy có điểm tựa tại B.GB = FA = P.AB = P. Tại điểm M người ta treo một vật nặng có khối lượng 70 kg. M 9 .* Phương pháp: .120 = 1200 (N) Trọng lượng của xà tập trung tại trọng tâm G của xà. = 350 (N) AB 8 Vậy lực đỡ của bức tường đầu A là 750 (N). Với loại toán này cần chú ý: các lực nâng và trọng lực còn thoả mãn điều kiện cân bằng của lực theo phương thẳng đứng có nghĩa P = FA + FB. AM = 0. TA TB B A Bài giải: Trọng lượng của vật nặng là: P P = 10. = 750 (N) AB 8 Để tính FB ta coi xà là một đòn bẩy có điểm tựa tại A xà đứng yên khi: FA.GA = FB = P. Tính lực căng của các sợi dây AA’ và BB’. Để xà đứng yên ta có: GB 3 = 1200.2m.70 = 700 (N) Gọi lực căng của các sợi dây AA’ và BB’ lần lượt là: TA và TB.

Trọng lượng của xà P = 10.Lực đỡ FA.MB (1. Xác định xem mỗi bức tường chịu tác dụng một lực bằng bao nhiêu? Bài giải: FA A G O B FB P P1 Các lực tác dụng lên xà là: .Xác định các lực làm đòn bẩy quay theo cùng một chiều Áp dụng quy tắc sau: “Đòn bẩy sẽ nằm yên hoặc quay đều. chiều dài 3 m.MA P. Để sào nằm ngang ta có: TB. Khối lượng 20 kg. 4 Vậy: Lực căng của sợi dây AA’ là 600 (N) Lực căng của sợi dây BB’ là 100 (N) ĐS: 600 (N).AB = P.MB P.AB = P. FB .75 = 750 (N) Vì xà đồng chất tiết diện đều nên trọng tâm của xà sẽ ở chính giữa xà => GA = GB = 1. = 100( N) B AB 1.Để sào nằm ngang ta có: TA. 2 ⇒T = =700.Xác định tất cả các lực tác dụng lên đòn bẩy .MA 0.Trọng lượng của người P1 = 10. Tì hai đầu lên hai bức tường. nếu tổng tác dụng của các lực làm đòn bẩy quay trái bằng tổng tác dụng của các lực làm đòn bẩy quay phải” Bài toán 1: Một chiếc xà đồng chất tiết diện đều. áp dụng quy tắc cân bằng của đòn bẩy khi có nhiều lực tác dụng ta có: 10 .5 m Giả sử người đứng ở O cách A là OA = 2 m Để tính FB coi đầu A là điểm tựa.4 Để tính TB coi A là điểm tựa. 100 (N) Loại 3: Khi đòn bẩy chịu tác dụng của nhiều lực * Phương pháp: .20 = 200 (N) . = 600( N) A AB 1. 4− 0.2) ⇒T = =700. Một người có khối lượng 75 kg đứng cách đầu xà 2m.

OB O I B P.1 = = 350 (N) => FA = AB 3 Vậy mỗi tường chịu tác dụng một lực là 600 (N) với tường A và 350 (N) với tường B ĐS: 600 (N).9 (kg) 10 10 ĐS: 0. 4 + 3.AG + P1. AG + P1. 2 P = = 9 (N) 1 l OA 4 P 9 Khối lượng của vật là: m = 1 = = 0.Trọng lượng P1.OI + P2 .5 + 750.GB + P1.FB.3 = 3 (N) P1 l l 3.OB P. Khi treo quả cân vào đầu B thì thấy hệ thống cân bằng và thanh nằm ngang.AB = P. Đo khoảng cách giữa vật và điểm tựa thấy: 1 1 OA = l và OB = l 4 2 Hãy xác định khối lượng của vật cần cân.Trọng lượng P của thanh tại trung điểm của thanh OI = thanh cân bằng 4 P1 = OA = P.OB 3.OB 200.GB + P1.OB C A => P1 = OA Với P2 = 10 m P2 P P2 = 10. P2 của các vật treo tại A và B l .0.OI + P2.AB = P.5 + 750. 350 (N) Bài toán 2: Một người muốn cân một vật nhưng A O B trong tay không có cân mà chỉ có một thanh cứng có trọng lượng P = 3N và một C C quả cân có khối lượng 0. Người ấy đặt thanh lên một điểm tựa O trên vật vào đầu A.OI + 3.3 kg. Bài giải Các lực tác dụng lên thanh AC .1.1.9 kg Loại 4: Lực đẩy Acsimét tác dụng lên vật treo ở đòn bẩy Với dạng toán liên quan đến lực đẩy Acsimét cần nhớ một số công thức hay sử dụng: 11 .AO 200.AO P.2 = = 600 (N) => FB = AB 3 FA.

O'B = 36 cm Lực đẩy Acsinet tác dụng lên A và B là: P P FA = dn . Lúc đầu đòn cân bằng. đòn bẩy thăng bằng xác định lực.Khi nhúng vào trong một chất lỏng. Trong đó: FA là lực đẩy Acsimét D là trọng lượng riêng của chất lỏng V là thể tích chất lỏng bị vật chiếm chỗ Cần nhớ các quy tắc hợp lực + Hợp lực của hai lực F1. đòn bẩy mất cân bằng. Tính trọng lượng riêng của quả cầu B nếu trọng lượng riêng của quả cầu A là dA = 3. FB = dn . Bài toán 1: (Áp dụng) Hai quả cầu A. Cần xác định lại điểm tựa.O’B 12 . của nước là dn = 104 N/m3 Bài giải: A Vì trọng lượng hai quả cầu cân bằng FA nhau nên lúc đầu điểm tựa O ở chính giữa đòn: OA = OB = 42 cm Khi nhúng A.F2 | + Hợp lực của hai lực F1. Sau đó áp dụng điều kiện cân bằng của đòn bẩy để giải bài toán. Sau đó đem nhúng cả hai quả cầu ngập trong nước.FA = d.Khi chưa nhúng vật vào trong chất lỏng. dA dB O O’ B FB P Hợp lực tác dụng lên quả cầu A là: P – FA Hợp lực tác dụng lên quả cầu B là: P – FB Để đòn bẩy cân bằng khi A. các lực tác dụng và cánh tay đòn của các lực. F2 cùng phương cùng chiều có độ lớn là F = F1 + F2 * Phương pháp giải của dạng toán liên quan đến lực đẩy Acsimet . B được nhúng trong nước ta có: (P – FA). F2 cùng phương ngược chiều có độ lớn là: F = | F1.104 N/m3. O’A = (P – FB). cánh tay đòn và viết được điều kiện cân bằng của đòn bẩy. được treo vào đầu của một đòn cứng có trọng lượng không đáng kể là có độ dài l = 84 cm. Người ta thấy phải dịch chuyển điểm tựa đi 6 cm về phía B để đòn trở lại thăng bằng.V. B có trọng lượng bằng nhau nhưng làm bằng hai chất khác nhau. . B vào nước P O'A = 48 cm.

3.3 = (1 − n ).104 (N/m3) 4 4 4d n − d A 4.55 cm Loại 5: Các dạng khác của đòn bẩy Đòn bẩy có rất nhiều dạng khác nhau.10 Vậy trọng lượng riêng của quả cầu B là: dB = 9. Để thanh thăng bằng trở lại ta phải dời điểm treo O về phía nào? Một đoạn bao nhiêu? Cho khối lượng riêng của nhóm và nước lần lượt là: D1 = 2. Biết OA = OB = l = 25 cm.104.10 − 3. ngoài trọng lượng P nó còn chịu tác dụng của lực đẩy Acsimet nên lực tổng hợp giảm xuống.Hay các giá trị vào ta có: P P ( P − dn )48 = ( P − dn )32 d d B A dn d ). B của một thanh kim loại mảnh nhẹ. Do vậy phương pháp giải cơ bản của loại này là: 13 . Vì thanh cân bằng trở lại nên ta có: B A (l ( l -x ) O P.55 cm ĐS: 5. Do đó cần phải dịch chuyển điểm treo về phía A một đoạn x để cho cánh tay đòn của quả cầu B tăng lên.7 − 1 Vậy cần phải dịch điểm treo O về phái A một đoạn x = 5.55 (cm) 2 D1 − D2 2.104 (N/m3) ĐS: 9.2 ⇒ (1 − d d B A 3d n d A 3.104 ⇒ dB = = = 9.(l-x) = (P-F)(l+x) +x ) ⇒ 10D1V(l-x) = (10D1V – 10D2V)(l+x) F (với V là thể tích của quả cầu) ⇒ D1(l-x) = (D1=D2)(l+x) P P ⇒ (2D1-D)x=D2l D2l 1 ⇒ x= l= . D2 = 1 g/cm3 Bài giải: Khi quả cầu treo ở B được nhúng vào nước. Thực chất của các loại này là dựa trên quy tắc cân bằng của đòn bẩy.2. Nhúng quả cầu ở đầu B vào nước thanh AB mất thăng bằng.7 g/cm3.104 (N/m3) Bài toán 2: (Áp dụng) Hai quả cầu cân bằng nhôm có cùng khối lượng được treo vào hai đầu A.25 = 5. Thanh được giữ thăng bằng nhờ dây mắc tại điểm giữa O của AB.

Điểm tựa này phải đảm bảo để đòn bẩy có thể quay xung quanh nó.AB = T. Theo quy tắc cân bằng ta có: P.Xác định đúng đâu là điểm tựa của đòn bấy.. Một lực tác dụng F theo phương ngang đặt vào đỉnh C như hình vẽ. 50 2 Bài toán 2: Một khối trụ lục giác đều đặt trên mặt sàn.Cuối cùng áp dụng quy tắc cân bằng của đòn bẩy để giải bài toán Bài tập áp dụng A T Bài toán 1: F H Một thanh AB có trọng lượng P = 100 N B a) Đầu tiên thanh được đặt thẳng C đứng chịu tác dụng của một lực F = 200 N theo phương ngang. Trụ có thể quay quanh A. . Tìm lực căng của sợi dây AC.Thứ hai cần xác định phương. Biết AB = BC b) Sau đó người ta đặt thanh nằm ngang gắn vào tường nhờ bản lề tại B. Tìm lực căng của dây AC lúc này? (AB = BC) Bài giải: a) Do lực P đi qua điểm quay B nên không ảnh hưởng đến sự quay (vì P chính là điểm tựa). chiều của các lực tác dụng và cánh tay đòn của các lực .F 2 F = F 2 = 200 2 (N) Từ đó: T = BH = 2 b) Khi AB ở vị trí nămg ngang. 14 A . trọng lượng P có hướng thẳng đứng xuống dưới và đặt tại trung điểm O của AB (OA = OB).BH BO P 100 ⇒ T= P= = (N) = 50 2 (N) BH 2 2 ĐS: 200 2 . C Thanh AB chịu tác dụng của lực T và F Lực F có cánh tay đòn là AB H Lực T có cánh tay đòn là BH T Để thanh cân bằng ta có: F.BH 2 B Với BH = AB 2 P (với H là tâm hình vuông mà ∆ ABC là nửa hình vuông đó) AB.OB = T.

Đầu A treo một vật có trọng lượng P1 = 2 N. Lúc này AI = AF = 2a 3 = a 3 (hai lần của đường cao tam giác đều) 2 Thật vậy gọi góc FAI = α ta có AI’ = AF. AF = P. Loại 6: Khi điểm tựa dịch chuyển Xác định giá trị cực đại.a F F’ C P O I D b) Khi F thay đổi hướng thì A B AI tăng dần (I đến vị trí I’ trên hình). Tính Fmin (lực F vẫn đạt tại C) Bài giải: a) Gọi cạnh chủa khối trụ lục giác là . AH ⇒ F 2 = 5 3 (N) = = Min AF a 3 ĐS: 10 3 (N).AH a P. Thước đặt lên một giá 15 .cos α và AI’ lớn nhất khi α =0 (cos α =1) lúc đó AI’ = AF Để khối trụ còn cân bằng ta có: FMin. có độ dài l=24 cm trọng lượng 4N.AI = P. cựa tiểu. 5 3 (N) 30. 2 2 P 30 = = 10 3 (N) => F = 3 3 Từ đó F . Do đó lực F giảm dần và AI lớn nhất khi F theo hướng của cạnh CE. Bài toán 1: Cho một thước thẳng AB đồng chất tiết diện đều.AH A B a Với AH = 2 3 AI = a E F 2 (do ∆OAD đều và AI là đường I’ cao) 3 a = P.a) Xác định độ lớn của lực F để khối trụ còn cân bằng trọng lượng của khối trụ là P = 30 N b) Lực F theo hướng nào thì độ lớn bé nhất. Khối trụ chịu tác dụng của trọng lượng P và lực F F Để khối trụ còn cân bằng ta có: C F.

2 2l l 2 ⇒ Pl 2 − Pl1l + P (l 2 − 2ll1 + l12 ) = Pl12 2 ⇒ l1 = 2l = 2 l = 2 . Lúc đó điểm D trùng với điểm E trên thước BE = BD = 16 cm Nếu ta di chuyển thước từ phải sang trái sao cho điểm E trên thước còn nămg trên giá CD thì thước vẫn cân bằng cho tới khi E trùng với C thì đến giới hạn cân bằng E lệch ra ngoài CD về phía trái thì thước sẽ quay quanh trục C sang trái. 12 cm 16 . Lúc đó D C P2 thước chia làm hai phần: P3 + Phần BD có trọng lượng P3 đặt ở P1 G1 là trung điểm của DB + Phần OA có trọng lượng P2 đặt ở G2 là trung điểm của AD Mép D ở điểm E trên thước.(l − l1 ) P.l P2 l2 P. Vậy giá trị nhỏ nhất của BD khi C trùng đến E là BE = BC Mà BC = BD + DC => BD = BC – DC = 16 – 4 = 12 (cm) ĐS: 16 cm. = ⇒ P2 = 2 P l l P l l P l2 = (l – l1) .GE = P1. Điều kiện cân bằng của trục quay D là: P3.l = ⇒ P3 = 1 .G1D ⇔ Pl2 + P2 l2 = P3 l1 (1) (với l2 = AD.đỡ nằm ngang CD = 4 cm. Xác định giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của khoảng cách BD để cho thước nằm cân bằng trên giá đỡ Bài giải: l2 l1 Xét trạng thái cân bằng của thước O1 O2 E B quanh trục đi qua mép D của giá đỡ ứng A với giá trị nhỏ nhất của AD.AD + P2. P1 = 2 N = 2 Thay vào (1) ta được P P(l − l1 ).l1 l1 (l − l1 ) + = .24 = 16 (cm) 3l 3 3 Giá trị lớn nhất của BD là l1 = 16 cm. l1 = ED) 1 2 2 Về thước thẳng đồng chất tiết diện đều nên trọng lượng của một phần thước tỷ lệ với chiều dài của phần đó ta có: P3 l1 P.

Điểm C cách tâm O của thước một đoạn OC = x a) Tìm công thức tính áp lực của thước lên giá đỡ ở C theo x b) Tìm vị trí của C để áp lự ở đó có giá trị cực đại. Việc nhận dạng các bài toán của học sinh nhanh hơn. do đó P2 = 17 . Sau khi phân loại bài tập tôi thấy có sự thay đổi rõ rệt qua các lần theo dõi cũng như kiểm tra học sinh. trong quá trình giảng dạy tôi gặp rất nhiều khó khăn trong việc truyền thụ kiến thức cho học sinh. Vì thanh đồng chất tiết diện đều P1 P2 nên ta có: P P OC x 1 = = do đó P = P2 x 1 P2 OA l l và P1 + P2 = P = 100 (N) ⇒ P2 = l P l+x b) P2 cực đại khi x = 0 do đó P2 = P = 100 N khi đó giá đỡ C trùng với tâm O P2 cực tiểu khi x lớn nhất x = l P = 50 N khi giá đỡ trùng với đầu B 2 II. Học sinh đưa ra hướng giải nhanh và chính xác hơn kiến thức học sinh đã theo hệ thống chặt chẽ và logic hơn. cực tiểu Bài giải: x a) Trọng lượng p của thanh đặt tại l trịng tâm O là trung điểm của thanh tác C O A B dụng lên hai giá đỡ A và B hai áp lực P1 và P2.Bài toán 2: Một thanh thẳng đồng chất tiết diện đều có trọng lượng P = 100 N. được đặt cân bằng trên hai giá đỡ ở A và C. cuốn hút học sinh hơn khi giúp học sinh giải quyết vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng. Thực tế cũng cho thấy. chiều dài AB = 100 cm. Việc học của học sinh trở nên áp đặt và không phát huy được tính tích cực sáng tạo của học sinh. Các bài tập đưa ra là các dạng bài tập đan xen lẫn nhau nên học sinh khó nắm bắt kiến thức hoặc có hiểu nhưng không theo hệ thống. khi phân loại bài toán giúp giáo viên tổ chức bài dễ bài giảng trở nên hấp dẫn.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN VỌNG CỦA ĐỀ TÀI Vì đòn bẩy là một trong những máy cơ đơn giản có nhiều bài tập và các bài tập lại đa dạng nên trước đây khi chưa phân loại bài tập.

được sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn tôi đã thực hiện thành công việc: “Hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập vật lí – Cấp THCS” với mong muốn: phát triển năng lực tư duy rèn luyện kỹ năng. Tuy nhiên do diều kiện thời gian. Chính vì vậy lựa chọn phương pháp dạy học bộ môn vật lí. Đặc biệt Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm đòi hỏi phát huy cao độ tính tích cực. phát triển và giáo dục. Kính mong các đồng chí và các bạn đồng nghiệp. sáng tạo. cũng như tình hình thực tế nhận thức của học sinh ở địa phương nơi tôi công tác và năng lực cá nhân cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế. độc lập sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức. Do vậy phương pháp dạy học bộ môn phải thực hiện được các chức năng nhận thức. Nhằm nâng cao chất lượng bộ môn nói riêng. ngày 01 tháng 11 năm 2012 Người viết Đinh Quang Đôn 18 . kỹ xảo và vận dụng tri thức vào thực tiễn. trao đổi và góp ý để giúp tôi hoàn thiện hơn trong chuyên môn. kỹ năng. nên việc thực hiện đề tài này chắc hẳn không tránh khỏi thiếu sót.PHẦN KẾT LUẬN Dạy học nhằm góp phần quan trọng để hình thành nhân cách con người lao động mới. Sau thời gian nghiên cứu tìm hiểu. kỹ xảo cho học sinh trong việc học tập bộ môn Vật lí. Phân loại các bài tập về đòn bẩy và phương pháp giải. tức là lựa chọn phương pháp dạy học bộ môn sao cho học sinh nắm vững tri thức. thích nghi với xã hội ngày càng phát triển. Bồ Sao. người giáo viên cần căn cứ vào phương pháp đặc thù của khoa học lấy hoạt động nhận thức của học sinh làm cơ sở xuất phát. góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung. Đề tài được xây dựng gồm hai phần chính: Những vấn đề chung liên quan đến đòn bẩy.

NHẬN XÉT CỦA TỔ CHUYÊN MÔN 19 .

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ TRƯỜNG 20 .

21 .

Sách 121 bài tập vật lý nâng cao lớp 8 (PGS . Sách 200 bài tập Vật lý chọn lọc (PGS . Sách Bài tập vật lý nâng cao 8 (NXB – Giáo dục) 22 . PTS Vũ Thanh Khiết – PTS. Lê Thị Oanh) 3.TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sách Vật lý nâng cao 8 (TS. TS Vũ Thanh Khiết – PGS Nguyễn Đức Thâm – PTS Lê Thị Oanh) 4.Lê Thanh Hoạch – Nguyễn Cảnh Hòe ) 2.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful