ĐỀ TÀI: RÁC THẢI RẮN_NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM SOÁT Ô NHIỄM CHẤT THẢI RẮN

I. TỔNG QUAN CHẤT THẢI RẮN 1. KHÁI NIỆM Chất thải là những nguyên nhiên vật liệu được thải bỏ trong sản xuất và đời sống sinh hoạt hàng ngày. Rác thải bao gồm chất thải rắn như: polymer tổng hợp, nhựa, bao nilon, mảnh vỡ thuỷ tinh…Chất bán rắn như: bột nhão, bùn thải, vữa cặn dầu… Rác thải có nhiều nguồn gốc khác nhau. Nhưng chủ yếu, rác có nguồn gốc từ các hoạt động của con người, trong các hoạt động sản xuất, sinh hoạt và từ các dịch vụ phục vụ cho con người. 2. PHÂN LOẠI CHẤT THẢI Dựa vào nguồn gốc phát sinh chất thải, chúng ta phân ra: Rác thải công nghiệp. Rác thải nông nghiệp Rác thải sinh hoạt Rác thải bệnh viện Rác thải đô thị Dựa vào tính chất rác thải có thể phân ra: rác thải hữu cơ và rác thải vô cơ. Dựa vào khả năng phân huỷ của rác thải có thể phân ra: rác thải không bị phân huỷ bởi sinh vật và rác thải có thể bị phân huỷ bởi sinh vật. 3.NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ RÁC THẢI Trước đây, trong những năm đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, rác thải có số lượng nhỏ. Nhiều nhà máy, xí nghiệp nằm cạnh các con sông, chất thải được xả trực tiếp ra sông, môi trường xung quanh. Xử lí chất thải được xem như tống

khứ chất thải ra môi trường. Đây chính là quan niệm “pha loãng và phân tán” thời kì đó. Tuy nhiên, khi khu vực công nghiệp, đô thị tăng lên, rác thải theo đó tăng lên về số lượng. Do đó, môi trường không còn khả năng tự làm sạch khi tiếp nhận nguồn thải. Quan niệm “phân tán và pha loãng” không còn phù hợp. Quan niệm mới về xử lí rác, đó là “cô đặc và nén lại”. Nhưng, biện pháp này còn nhiều hạn chế. Những container tự nhiên hay nhân tạo chứa rác thải có thể rò rỉ ra môi trường. Kết quả là, một quan niệm khác được thay “sự phục hồi nguồn lực”. Quan điểm “ phục hồi nguồn lực” là coi rác thải là một nguồn nguyên nhiên liệu mới có thể tái chế và sử dụng. Điều đó tạo lên khuynh hướng hiện đại, khuynh hướng quản lí rác thải thống nhất, coi rác là nguồn lực để phát triển, tái chế và sử dụng lại rác thải. VD: Dùng rác thải chôn cất theo quy trình công nghệ để tạo ra phân trộn và khí mêtan. Với quan điểm này, nó được thể hiện rõ rằng, sự tăng lên của giá nguyên liệu thô, năng lượng, giá vận chuyển. Và công nghệ xử lí rác đã trở thành một trong 20 triệu ngành kinh tế của nước Mỹ. VD: Ở thành phố Denver Colorado, những bãi đất chứa rác thải cũ được cải tạo lại và được xây dựng trở thành những bãi đỗ xe. Đối với Việt Nam chúng ta, quan niệm về xử lí rác được xem như là trách nhiệm của cơ quan về môi trường, của nhà nước, mỗi người chưa có ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường. Người dân chỉ quan niệm, môi trường xung quanh ta sống không có rác là được. Do đó, một người có thể mang rác của nhà mình ra vệ đường, cạnh cống thoát nước hay bất cứ chỗ nào vắng vẻ để vất rác, miễn sao, xung quanh nhà mình không có rác là được rồi. Quan niệm này đã ăn sâu vào ý thức của từng người. Và khi làm những điều đó, họ không quan tâm

đến hậu quả đối với môi trường. Hiện nay, với công nghệ xử lí rác còn hạn chế, nước ta vẫn còn một lượng lớn khối lượng rác chưa đựoc xử lí. Và như vậy, rác thải là vấn đề nóng bỏng trong việc làm ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nước ta đã bắt đầu chú trọng việc tái chế và sử dụng rác thải và biến rác thải thành tiền. Cụ thể tại thành phố HCM, tại hai bãi rác Tân Phước Lâp 1 và 2, thành phố đã bắt đầu xây dựng và vận hành công nghệ chôn lấp rác và thu hồi khí có ích sinh ra từ các bãi rác này. Theo tính toán sơ bộ, với khối lượng rác thải rắn đô thị đã và đang được chôn lấp(3.000-3.500 tấn/ ngày),bãi chôn lấp Phước Hiệp 1 và 2 tại Củ Chi ( HCM) sẽ tạo thành khoảng 450.000525.000 m3 khí/ngày đêm, lượng carbon có thể bán được theo chương trình tín dụng carbon CDM khoảng 17,64 triệu tấn ( tương đương 70,56 triệu USD với giá thấp nhất là 4 USD/tấn carbon theo giá quy đổi ); phát được 4.389.396 Mwh điện ( tương đương 4.389 tỷ đồng với giá bán điện la 1000đ/kwh). 4. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG RỦI RO CỦA XỬ LÍ RÁC THẢI ĐẾN MÔI TRƯỜNG. Hiện nay, rác thải được coi như là một phần tất yếu của cuộc sống, con người không thể sông, sinh hoạt và sản xuất mà không thải ra rác. Theo thời gian, lượng rác do con người thải ra càng ngày càng lớn, tính chất, thành phần, độ độc hại của rác thải ngày càng tăng theo tiến trình phát triển của xã hội loài người. Rác thải, ô nhiễm rác thải và xử lí nó đã trở thành vấn nạn lớn đối với tất cả chúng ta hiện nay. Riêng trên nước Mỹ, rác thải và việc xử lí rác thải rắn đang là vấn đề lớn. Vấn đề được rut lại với lí do đơn giản, lượng rác thải được thải ra từ các đô thị là rất lớn. Trong khi đó, không gian dùng cho việc xử lí và chứa rác thải ngày càng hẹp đi, chi phí cho việc xử lí rác thải là rất lớn và ngày càng tăng trong những năm gần đây.

Ơ Mỹ, tất cả các các lọai rác thải công nghiệp, đô thị gây ra ảnh hưởng ngày càng tăng và gây ra nhiều khó khăn hco những nhà quản lí rác thải. Mặc dù, một số lượng lớn rác thải đã được thu gom, tái chế,sử dụng và xử lí, cùng với sang kiến về công nghệ xử lí luôn được phát minh nhưng nước Mỹ vấn đứng trong tình trạng khủng hoảng rác thải đô thị. Mỗi năm, nước Mỹ chi cho việc thu gom,xử lí rác thải hàng triêu đô la mỗi năm và đó là một trong những phí tổn lớn nhất chi cho môi trường của chính phủ. VD: Nước Mỹ, mỗi năm tại các khu vực thành thị thải ra 640 triệu kg chất thải rắn. Mỗi ngày, một khối lượng rác thải ra có thể bao phủ 1,6 triệu km2 đất với chiều sâu khoảng 3m. Tại Việt Nam, mỗi ngày một lượng rất lớn rác thải được thải ra từ các đô thị lớn, lượng rác thải này từ rất nhiều nguồn khác nhau. Chúng có thể được sinh ra trong các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt và các dịch vụ khác. Nhưng, chủ yếu lượng rác thải được sinh ra từ hoạt động công nghiệp và sinh hoạt. Tại Hà Nội, theo ghi nhận của PV báo, rác ở HN được người dân vứt bỏ bất cứ chõ nào mà họ cảm thấy thuận tiện nhất, có thể là chân cột điện, bãi đất hoang, miệnh hố cống thoát nước của thành phố… Và nó gây ra ô nhiễm môi trường tại các hệ thong sông lớn chảy qua HN như sông Nhuệ-Đáy và các con sông nhỏ chảy trong nội thành như: sông Tô Lịch, Kim Ngưu… Và gây mất mĩ quan đô thị. Theo ước tính của sở Tài Nguyên thành phố HN mỗi ngày thành phố thải ra khoảng 4 triệu tấn rác thải khác nhau. Tại thành phố HCM, mỗi ngày thành phố thải ra trên 6 triệu tấn rác thải, chỉ một phần nhỏ trong số này được thu gom và xử lí, con lại chúng được thải trực tiếp ra môi trường xung quanh. Và tại các bãi chôn lấp rác thải của thành phố, do công nghệ xử lí cung như công tác quản lí các bãi rái tại đây, nước

rò rỉ, khí thải và mùi hôi thối đang gây ra tác động rất xấu đến môi trường xung quanh. II. NHỮNG LƯU Ý TRONG CÔNG NGHỆ XỬ LÍ RÁC THẢI 1. VỊ TRÍ VIỆC XỬ LÍ Việc chọn nơi xử lí rác thải là rất quan trọng, nó góp phần quyết định hiệu quả của việc xử lí và những tác động đến môi trương có thể có xảy ra do rủi do của công tác xử lí gây ra. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xử lí rác đảm bảo vệ sinh là: Bản đồ địa hình nổi. Tầng nước ngầm dưới nơi xử lí. Lượng mưa tại nơi xử lí rác thải. Loại đất và đá nơi xử lí rác Vị trí chọn nơi xử lí rác tải là nơi điều kiện tự nhiên đảm bảo sự an toàn cho việc xử lí rác thải. Đó là những rủi do trong quá trình xử lí là nhỏ nhất hay có thể chấp nhạn được trong phạm vi môi trường cho phép. Vị trí tốt nhất được chọn cho việc xử lí chấ thải là các vùng đất khô cằn, cách li nguồn nước ngầm một cách tương đối, lượng nước rỉ rác hay chảy tràn ra ít và không thấm tới nguồn nước ngầm và nơi xử lí xa khu dân cư. Tại những nơi ảm ướt, độ ẩm cao, vị trí chọn chôn lấp rác thải là vùng đất sét và lượng cát và phù xa. Với vùng đất như vậy, lượng nước rỉ rác được tạo ra sẽ được truyền dẫn bằng sức nước chậm tới môi trường xung quanh và một phần lượng nước rỉ rác sẽ được trao đổi các ion trong đất được hoà tan và hấp thụ được giảm đi mức độ độc hại. VD: Khi rác thải được chon lấp trong vùng đá Aquifer, sự ô nhiễm không khí và nước rỉ rác được giảm đi nhờ bộ lọc tự nhiên. Tại vùng đá vôi, nơi có độ dốc lớn và được bao bọc bởi sỏi, cát và đá sẽ có độ truyền dẫn nước cao. Do đó, lượng nước thải

chảy ra từ rác thải nhanh chóng ngấm vùng nước ngầm phía dưới hay lan nhanh sang vùng lân cận. Do vậy, những nguyên tắc chung lạ chọn vùng xử lí rác chon lấp rác thải là: Những lớp đá vôi hay những hầm đá có sự đổ gãy cao và có nhiều cát. Những vùng ngập lụtbị tràn ngập nước theo định kì bởi nước bề mặt siên cũng được xem như nơi có thể chấp nhận được cho việc sử lí rác thải. Tại vùng có vật liệu truyền dẫn cao với mực nước cao không nên chọn nơi chon lấp. Tại nơi có địa hình gồ ghề, vị trí chọn cho việc chôn lấp gần đầu máng nước nơi mà lượng nước bề mặt là nhỏ nhất. Nhưng lớp đất sét nếu được giữ khô ráo cũng có thể dung trong việc chon lấp rác thải. Khu vực đồng bằng, nơi mà đất nhiều cát và sét có sức truyền dẫn bằng sức nước nhỏ là nơi tốt nhất cho việc chon lấp rác thải. Đây là một số nguyên tắc cần thiết trong việc chọn lựa cho việc chon lấp rác thải. Việc chon lấp rác tại nơi đó ít ảnh hưởng tới chế độ địa chất và thuỷ văn. Trong từng vùng cụ thể, chúng ta nên có chế độ quan trắc cụ thể, rõ rang và kiểm tra những yếu tố khác cùng với công tác đành giá tác động đến môi trường của việc chon lấp để có thể chọn lựa vùng phù hợp. Qua đó chúng ta có được những khu vực không nên đặt các khu xử lí, chôn lấp rác thải là: khu vực đồng bằng gần cửa sông, đầm lầy, vùng đất dẽ xảy ra sụt lở, nằm trong vùng kiến tạo địa mảng dẽ xảy ra động đất và đặc biệt không xây bãi chôn lấp gần các sân bay. 2. NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG TẠI NƠI XỬ LÍ RÁC THẢI. Những tác động đến môi trường tại các bãi chôn lấp rác thải thường có nguyên nhân do chu trình xử lí, công nghệ xử lí

không hợp hay do công tác quản lí tại các bãi rác này. Tại địa điểm được chọn dung để chôn lấp rác thải, nếu không được quan trắc hợp lí, nơi chôn lấp rác được tiếp xúc với nguôn nước ngầm. Nước rỉ rác mang theo các chất ô nhiễm thâm qua đất và làm bẩn nguồn nước. Môt nguyên nhân khác có thẻ xảy ra đó là lương nước chảy tràn tại các bải rác lớn, dòng nước chảy tràn sẽ mang theo chất ô nhiễm chảy tràn trên bề mặt gây ô nhiêm nguồn nước mặt và môi trưông xung quanh. Với công nghệ xử lí lạc hậu, không thích hợp cũng có thể gây ô nhiễm môi trương xung quanh. Cụ thể đó là môi trương đất tại nơi chôn lấp, môi trường nước và nguôn không khí tại các bãi chôn lấp. Tại các bãi chôn lấp rác thải, nếu không được xây bờ ngăn chắn nước rỉ rác, nước rỉ rác tại bãi chôn lấp hay cả nước chảy tràn bề mặt sẽ mang chất ô nhiễm phát tán ra môi trường. Nguyên nhân thứ hai đó là, lượng đất và bề dày đất dung để phủ bề mặt rác thải sau mỗi ngày chôn lấp không hợp lí, khôn gđủ độ dày khiến khí ô nhiễm và mùi phát sinh từ bãi rác sẽ được phát tán ra môi trương gây ô nhiễm bầu khí quyển. VD: Tại các bãi rác, mùi hôi thối được phân huỷ từ chất hữư cơ hay khí dễ cháy như metan hay nhiều loại khí phát sinh khác nếu không được ngăn chặn sẽ bị thoát ra ngoài môi trường không khí. Cũng với bề dày đất phủ không hợp lí cung công tác quản lí rác không đảm bảo khiên các bãi rác bị xâm nhập bởi sinh vật như chuột côn trùng…cũng khiến phát sinh chất ô nhiễm ra môi trường xung quanh. VD: Trong những năm 30-40 của thế kỉ trước, ở Long Island New York đã sản sinh ra lượng nước rỉ rác và khí thải rộng vài trăm mét và di chuyển vài trăm kilomet từ những vị trí vứt rác thải. III. BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT VÀ XỬ LÍ RÁC THẢI ĐÔ THỊ

1. THIẾT KẾ QUÁ TRINH XỬ LÍ RÁC ĐẢM BẢO VỆ SINH. KHÁI NIỆM Một chu trình xử lí rác thải đảm bảo vệ sinh là quá trinh xử lí rác thải theo công nghệ thích hợp, phù hợp từng loại rác thải nhằm hạn chế nhỏ nhất những hậu quả tác dộng của rác thải yới môi trường. Thiết kế chu trình xử lí rác đảm bảo vệ sinh là hệ thống xử lí rác phức tạp gồm nhiều vật cản lối vào. Vật cản này có thẻ là lớp đất sét có độ dày thích hợp phủ lên bề mặt rác được chôn lấp. Ngoài ra, lớp vật cản này có thể là lớp nhựa tổng hợp dẻo giúp ngăn cách rác được chôn lấp với môi trường bên ngoài. Bên cạnh đó, công tác quan trắc xác định nơi dung để chôn lấp rác thải cũng rất quan trọng. Công tác quan trắc nhằm xác định đặc điểm thỏ nhưỡng, chế độ thuỷ văn, địa hình của vùng đất chôn lấp rác thải. Cuối cùng, quá trình xử lí rác đảm bảo vệ sinh phải là một hệ thống kiểm tra định lượng và có phương sách khác để đánh giá tiềm năng ô nhiễm nước bề mặt cung như nước ngầm. Công tác quan trắc kiểm tra tầng đắy nước trước khi chôn lấp cũng như sau khi đã lấp đất, quan trắc đánh giá tác động lượng nước rỉ rác, khí gas và khí độc hại khác sau quá trinh chôn lấp. Công tác kiểm tra này được làm một cách định kì và duy trì trong suốt quá trình xử lí rác thải nhằm đánh giá hiệu quả xử lí cũng như có biện pháp khắc phục rủi ro trong xử lí một cách kịp thời. Một quá trình quan trắc dựa vào 6 con đường chất thải xâm nhập vào môi trường sau: Các khí gas bị phân huỷ trong đất và đá như: metan, ammoniac,hidrosulfur, nito oxyt…có thể được bay hơi và xâm nhập vào khí quyển. Những kim loại nặng như: Crom, chì,sắt… được giữ lại trong đất.

Nhưng chất hoà tan như: clo,nitratvaf sulfat dẽ rang xuyên qua long đất và thấm xuống dòng nước ngầm. Nước trên bề mặt được chảy tràn sữ mang các chất ô nhễm trong rác thải theo và hoà vào hệ thống nước mặt. Vài loài cây trông phát triển gần khu xử lí rác sẽ hấp thụ các chất độc trong nước thải và được lưu chuyển trong hệ sinh thái vào cơ thể đông vật và con người. Xác thực vật chứa các chất độc nó sẽ đưa các chất độc đó vào đất và môi trường thong qua các quá trình lưu thông. Dựa vào 6 con đường trên, một quá trình kiểm tra định lượng phân tích chất lượng bầu không khí tại khu vực xử lí rác phát hiện chất độc khí trước khi chúng được tích luỹ và phát tán vào môi trường, quan trắc nước bề mặt, nước ngầm trong khu vực xử lí dòng sông suối gần khu xử lý… 2. NHỮNG BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT CHẤT THẢI RẮN Biện pháp kiểm soát chất thải rắn tại các đô thị là công việc khó khăn và rất phức tạp. Nó gồm nhiều phương pháp được kết hợp với nhau từ công tác quản lí nguồn phát thải, thu gom, hạn chế, tái chế và tái sử dụng và công đoạn cuối cung mới là xử lí rác tại các nơi tập chung rác. 2.1 QUẢN LÍ NGUỒN PHÁT SINH RÁC THẢI Quản lí nguồn phát sinh rác thải là một trong công tác rất quan trọng trong việc kiểm soát ô nhiễm chất thải rắn. Công tác kiểm soát dựa vào luật môi trường về phát sinh rác thải, thu gom và xử lí tại nguồn phát thải. Bên cạnh các văn bản về luật, công tác quản lí dựa vào những văn bản, những quy định dưới luật về môi trường chất thải rắn Trước hết, đối với những nguồn phát sinh rác thải như khu công nghiệp, xí nghiệp, nhà máy, bệnh viện… phái có hệ thông xử lí rác theo tiêu chuẩn môi trường. Các cơ sở này phải có báo cáo về công tác quản lí rác thải tại cơ sở mình thải ra, nơi tập trung, thu gom và xử lí rác. Ngoài ra, các cơ sở phát thải chất thải rắn phải đóng phí gây ô nhiễm do rác thải gây ra. Phí

này được tính dựa trên phí sinh thái và thuế môi trường. Các cơ quan có trách nhiệm trong việc quản lí rác thải luôn phải giám sát, kiểm tra, theo rõi thực trạng quản lí rác thải và xử lí rác các cơ sở phát sinh chất ô nhiễm. Đối với rác thải sinh hoạt, cần xây dựng chương trình giáo dục ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường. Đó là ý thức vứt rác thải đúng nơi, đung chỗ quy định, xây dựng thói quen phân loại rác, sử dụng đồ gia dụng ít gây ô nhiễm, hạn chế sử dụng đồ dung khó phân huỷ như bao nilon, tái sử dụng đồ dung trong gia đình. 2.2 HỆ THỐNG THU GOM RÁC THẢI Hệ thống thu gom rác là một khâu rất quan trọng trong chu trình xử lí rác thải. Chúng ta chỉ có thể xử lí tốt chất thải rắn khi ta thu gom hết rác thải từ các nguồn phát sinh. Một hệ thông thu gom rác bao gôm: hệ thống thùng chứa rác đặt tại các vị trí công cộng như chợ, nơi công sở, gần cổng các bệnh viện, trường học, công viên và tại các cụm dân cư. Đối các khu dân cư sinh sống cần đặt một thùng rác cho 2-3 nhà. Bên cạnh đó, chúng ta phải kể đến đội ngũ công nhân viên làm việc thu gom rác thải và số lượng xe chuyên dụng dung chuyên chở rác thải. Tuy nhiên, một lượng rác không nhỏ dược thu từ hệ thống thu gom rác thải từ các cống thoát nước của đô thị. Tuy nhiên, ở nước ta, hệ thống thu gom rác thải con lạc hậu, lương xe chuyên chở rác còn ít và chưa chuyên dụng, số lượng thùng rác còn hạn chế đó là nguyên nhân khiến nạn vứt rác bừa bãi của người dân. Tại các khu dân cư, khu vực nhà dân sinh sống thường chưa có hệ thống thùng rác thu gom. Rác từ các gia đình chỉ được đựng trong bịch nilon hay xả trực tiếp ra vệ đường, điều này gây lên lương rác không nhỏ rơi xuống các cống thải, gây tắc nghẽn hệ thống cống thoát nước đô thị, gây ô nhiễm nguồn nước… 2.3 PHÂN LOẠI, HẠN CHẾ, TÁI CHẾ, TÁI SỬ DỤNG RÁC THẢI

Phân loại rác thải là cách chia rác thải ra thành tưng loại trước khi được đưa vào xử lí. Những tiêu chí dung việc phân loại rác thải là: đặc điểm, tính chất và khả năng phân huỷ trong môi trường hay thời gian phân huỷ. VD: Rác thải phân ra: rác thải hữu cơ, rác thải vô cơ, rác thải rắn… Tác dụng việc phân loại rác thải theo từng thành phần sẽ giúp lựa chọn phương pháp xử lí rác phù hợp với từng loại rác thải nâng cao hiệu quả trong việc xử lí. Hạn chế, tái chế và tái xử dụng là phương châm 3 R trong công tác quản lí chất thải thống nhất. Chúng có mục tiêu là hạn chế phần lớn chất thải phải vứt đi trong quá trình xử lí rác thải, lò thiêu rác và một số quy trình khác. Những phương pháp được thực hiện là: Thiết kế các đồ dung, vật gia dụng, bao nilon hay những đồ dung một lần có khả năng phân huỷ trong môi trường trong thời gian ngắn hoặc chúng có khả năng tự huỷ giúp giảm bớt lượng rác thải. Công tác này ở Mỹ đã áp dụng và đã làm giảm đi 10% trong lượng rác thải đô thị. Tuy nhiênở nước ta hiện nay, việc áp dụng phương pháp này còn hạn chế, bước đầu nghiên cứu sản xuất và sử dụng bao nilon tinh bột có thời gian phân huỷ ngắn nhưng không được áp dụng rộng rãi. Thiết lập chương trình tái chế rác thải, công tác tái chế gắn liền công đoạn phân loại rác, đó là những đồ dung đã qua sử dụng bằng kim loại, nhựa tổng hợp, thuỷ tinh…có khả năng tái chế lại được sẽ được thu lại từ rác thải rồi dung công nghệ thích hợp tái chế lại chúng sản xuất ra sản phẩm mới. Công tác tái chế có thể hạn chế khoảng 30% lượng rác thải vào môi trường. Bên cạnh đó, chung ta có thể tạo phân trộn từ rác thải, tái sử dụng nhiều lần những vật dụng trong gia đình hoặc trong sản xuất cũng góp phần hạn chế them khoảng 15% lương rác thải nữa. Khi chúng ta kết hợp chặt chẽ cả ba yếu tố trên, có thể hạn chế khối lượng rác thải đô thị trong quá trình xử lí vào

khoảng 50%. Lợi ích của quá trình quản lí rác thải theo phâm châm 3 R ở trên không chỉ giảm bớt lượng rác thải mà nó còn mang lại những hiệu quả kinh tế từ việc giảm bớt chi phí xử lí, lợi nhuận tạo ra từ chế tạo sản phẩm mới từ rác thải. Rác trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Và việc tái chế rác thải đã trở thành một ngành kinh tế. Theo một nghiên cứu đối 100 gia đình tinh nguyện ở miền đông Hanpton, New York có hướng dẫn về việc “tái chế một phần” rác thải. Với mục tiêu là hận chế số lượng chất thải như giấy in, báo, thuỷ tinh, can nhựa, nhựa dẻo và các vật liệu hữu cơ và tạo ra phân tronj sau quá trinh xử lí đã đạt được hiệu quả hạn chế 84% rác thải. Một ví dụ khác là thành Seattle, vào năm 1998, thành phố gặp thất bại trong quá trinh xử lí rác thải. Và Hội đồng thành phố dự đinh xây dựng lò thiêu rác với công xuất lớn. Tuy nhiên, đề án này đã gặp phải sự phản đối từ phía người dân và thành phố đã phải chon lựa chương trình hạn chế và tái sử dụng chất thải. Với chương trình này, thành phố Seattle đã hạn chế được 60% rác thải trong năm đó. Còn ở Việt Nam, hận chế, tái chế và tái sử dụng rác thải chỉ mang tính tự phát, manh mún và nhỏ lẻ. Nó không đươc thực hiện trực tiếp từ nguồn phát sinh rác thải mà thường bắt nguồn từ những người thu lượm rác bán ve chai hay nhưng người thu gom rác thải. 2.4. NHỮNG BIÊN PHÁP XỬ LÍ RÁC THẢI 2.4.1. CHÔN LẤP Rác thải sau khi được thu gom đươc tập chung lại, có thể qua công đoạn phân loại lại rác, sau đó rác được nghiền nhỏ bằng máy nghiền rác và được đem đi chôn lấp. Địa điểm chôn lấp được chọn là những nơi có địa hình tương bằng phẳng, tỉ lệ cát và sét cao, mực nước ngầm tại khu chôn lấp thấp, xa khu dân cư. Bãi rác được xây dựng theo công nghệ chôn lấp, có bờ ngăn hạn chế lượng nước chảy tràn từ bãi rác ra môi trương

xung quanh, lượng nước rỉ rác trong bãi chôn lấp được phân tán và làm sạch nhờ khả năng tự làm sạch của đất tại nơi đó và không ảnh hưởng đến chất lương nước ngầm. Lượng rác thải sau mỗi ngày chôn lấp được phủ một lớp đất dày khoảng15-50 cm nhằm cách ly rác chôn lấp cũng như lượng khí thải phát sinh từ rác bị phân huỷ với môi trường bên ngoài. Quá trình chôn lấp rác thải có thể tạo ra phân trộn nếu như rác được phân loại một cách hợp lí. Rác thải được tách riêng các hợp chất hữu cơ, khi chôn lấp, chúng được phân huỷ thành chất mùn. 2.4.2. THIÊU RÁC Thiêu rác là cách dung ngọn lửa ở những nhiệt độ cao đốt cháy chất thải chỉ để lại lượng tro nhỏ. Nhiệt độ trong các lò thiêu đôt thường la 900-10000C, nhiệt độ này đủ để thiêu huỷ tất cả những chất dẽ cháy và chỉ để lai lượng nhỏ những chất không cháy được. Lò thiêu rác đã hạn chế hiệu quả rác thải từ 7595%. Tuy nhiên, việc xử lí rác bằng lò thiêu có những hạn chế. Hạn chế đó là việc thiêu đốt sẽ sản sinh ra lượng khói và bụi làm ô nhiễm bầu khí quyển và những tro, cặn bã độc hại sau quá trinh thiêu đốt và cần được xử bằng phương pháp riêng biệt. Lượng khói và bụi thải ra từ các lò thiêu có chứa hợp chất của lưu huỳnh, oxyt nitơ và carbon là một trong những nguyên nhân gây ra mưa acid. Bên cạnh đó, lượng khói và bụi thải này chứa những kim loại độc hại như chì, thuỷ ngân, sắt…Một hạn chế khác của lò thiêu rác đó là chi phí xây dựng các lò thiêu rất cao và cần có sự giúp đỡ của chính phủ mới xây dựng được. Tại Mỹ, chi phí cho việc xây dựng một lò thiêu rác tiêu tốn 8 tỷ đô la và cũng chỉ xử lí được 25% lượng rác thải đô thị. 2.4.3 RÁC LỘ THIÊN Rác lộ thiên là cách vứt rác thành đống, là cách xử lí chất thải đã tồn tại phổ biến và đã có từ rất lâu. Trong nhiều trường hợp, rác lộ thiên được đặt ở bất cứ chỗ nào đất sẵn có mà không

quan tâm đến sự an toàn, sự nguy hiểm đên sức khoẻ và giảm giá trị thẩm mỹ. Lượng rác thải có thể được chất thành những đông rác cao đã làm ô nhiễm nước bề mặt và bầu khí quyển. Nguyên nhân của việc vứt bỏ rác lộ thiên là do ý thức bảo vệ môi trương của các nhà sản xuất và của chinh những người dân. 2.4.4 SỰ ĐỔ BỎ RÁC VÀO ĐẠI DƯƠNG Đại dương có diện tích 361 triệu km2, bao phủ 70% diện tích bề mặt trái đất. Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì môi trường, cung cấp nước cho vòng tuần hoàn nước, tham gia tạo nên khí hậu toàn cầu, điều hoà carbonic trên trái đất và là nơi sống của hang triệu sinh vât. Do đó, đại dương có khả năng tự làm sạch cao và các nước trên thế giới đã đổ bỏ lượng chất thải rất lớn vào đại dương. Các chất thải bỏ vào đại dương gồm nhiều loại khác nhau từ những chất ít đọc hại như bùn nạo vét sông, rác xây dựng cho đến những chất độc hại như các laọi chất hoá học sinh học và chất phóng xạ. Các loại chất thải này ngày càng nhiều lên trong đai dương, chung gây ra tác dộng đến môi trường biển, ảnh hưởng đến hệ sinh vật sống trong đó làm thay đổi hệ sinh thái. Do những hậu quả mà chất thải gây ra cho môi trường biển, luật pháp lien bang Mỹ đã cấm đổ bỏ vào đại dương các chất thải mà gây ra những tác đọng ớn đến môi trường biển, ngoài khả năng làm sạch môi trường biển. Các chất thải bị cấm đổ bỏ vào dương bao gồm: Các chất thải phóng xạ, chat hoá học, sin học dung trong chiến tranh. Các vật chất trơ ảnh hưởng tới hệ sinh thái biển không thể xác định được Các vật chất trơ tồn tại lơ lửng, bền vững và trôi nổi Các chất thải chứa nhiều kim loại nặng như thuỷ ngân, cadminium,chì… Dầu thô, dầu nhiên liệu, dầu diesel…

…… V. QUẢN LI CHẤT THẢI ĐỘC HẠI 1. QUẢN LÍ CHẤT THẢI HOÁ HỌC Nguồn gốc phát sinh Hoá chất là những hợp chất hoá học đã được con người sử dụng, khi qua sử dụng tạo ra chất thải. Chất thải đó được gọi gọi là chất thải hoá học. Chất thải hoá học có thể tồn tại ở nhiều dạng khác nhau. Chúng có thể ở dạng lỏng, khô rắn, huyền phù… Chất hoá học đã được con người sử dụng từ rất lâu, trong sản xuất, sinh hoạt và ngày càng phát triển mạnh trõng những năm về sau. Và ngành Hoá học đã trở thành ngành Công nghệ hoá, đã tìm ra nhiều chất, hợp chất mới cùng rất nhiều ứng dụng của nó với số lượng lớn. VD. Riêng ở nước Mỹ, khoảng chừng 1000 hợp chất hoá học mới được mua bán hang năm. Và có khoảng 50.000 chất hoá học hiện nay đang có mặt trên thị trường. Mặc dù, những hợp chất hoá học này có lợi cho con người. Nhưng trong số đó, vẫn có hững hợp chất hoá học đã được phân loại về những nguy hiểm đến sức khoẻ con người. Nước Mỹ thì tạo ra trên 150 triệu tấn những chất thải hoá học nguy hiểm mỗi năm. Trong những năm qua, một nửa trong số toàn bộ chất thải hoá học được vất bừa bãi. Những con đường chất hoá học xâm nhập vào môi trường. Sự chôn lấp chất thải hoá học không đúng cách khiến những chất hoá học bị rò rỉ ra môi trường xung quanh, thấm trong môi trường đất và trong những mạch nước ngầm gây ra sự ô nhiễm chất thải hoá học. Tại những kho, nhà chứa chất thải hoá học bị vứt bỏ, qua thhời gian, vật liệu chứa chúng bị han rỉ, chất hoá học bị rò rỉ ra môi trường xung quanh. Tại khu vực mà chất thải hoá học được vứt bỏ bừa bãi, không qua sử lí, chất thải hoá học ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường.

Những rủi do trong việc vận chuyển (đường ống dẫn hay xe vận chuyển) cũng là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường bởi chất hoá học. Khi chất hoá học hay những chấ thải hoá học xâm nhập vào môi trường, chúng gây ra những tác động đến môi trường xung quanh như đất, nước, không khí và sinh vật, làm mất đi những tính chất ban đầu vốn có của nó. VD. Môi trường đất bị ô nhiễm chất hoá học thì bị mất đi tính chất và mục đích sử dụng ban đầu vốn có của đất. Ví như, đất nông nghiệp bị ô nhiễm chất hoá học và chất thải hoá học làm giảm năng xuất hay nặng hơn là không thể trồng cấy được nữa. Môi trường nước bị ô nhiễm có chứa chất hoá học độc hại thường không sử dụng được, gây ảnh hưởng xấu đến sinh vật và gây ra ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người hay gián tiếp thông qua sự tích tụ trong hệ sinh thái. Do đó, chất hoá học cùng với những chất thải hoá học cần có những biện pháp quản lí cùng biện pháp xử lí để giảm thiểu tác động đến môi trường và sức khoẻ con người. Suy giảm nguồn Suy giảm nguồn là mục tiêu suy giảm số lượng chất thải hoá học sinnh ra từ nàh máy sản xuất và nhiều nguồc khác nhau. Như thay đổi chất phản ứng, hạn chế sử dụng quy trình gây chất độc hại hay những nguyên liệu thô cho sản phẩm phụ .v.v. Sự tuần hoàn, phục hồi và tái sử dụng. Trong chu trình công nghệ sản xuất, thu hồi, tái sử dụng chất hoá học một cách tuần hoàn theo chu trình nhất định nhằm giảm thiểu chất thải phát thải.Vd acid trong nước thải có thể được trích li và thu hồi lại để tái sử dụng Xử lí Chất thải hoá học nguy hiểm có thể được xử lí bằng nhiều phương pháp khác nhau, thay đổi thành phần hoá tính hay lí tính của nó để giảm đi sự đoc hại chất thải. Phương pháp sử dụng thường là trung hoà acid, kết tủa kim loại nặng độc hại,

ôxy hoá hợp chất tạo chất mới it độc hại hơn. Chất thải có thể cháy được, chúng ta có thể dùng phương pháp tiêu huỷ bằng nhiệt độ cao. 2. Quản lí chất thải phóng xạ Chất thải phóng xạ là những chất thải mang những chất hay hợp chất có tính phóng xạ. Chúng có nguồn gốc từ các hoạt động khai thác và sử dụng chất phóng xạ hay từ các phản ứng hạt nhân, chế tạo vũ khí hạt nhân. VD. Quá trình khai thác và sử dụng uranium Chất thải phóng xạ có thẻ được phân làm hai loại:chất thải phóng xạ có nồng độ cao và những chất thải phóng xạ có nồng đọ thấp. Chất thải phóng xạ có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người, thế giới sinh vật. Dưới tác dụng của tính phóng xạ các chất có trong chất thải sẽ gây ra các bệnh về di truyền như đột biến gen hay NST,gây rối loạn quá trình trao đổi chất hay có thể bị tử vong nếu bị nhiễm phóng xạ với nồng độ cao. Chât thải có thể ảnh hưởng gián tiếp đến môi trường và con gnười thông qua các hoạt động khai thác và sử dụng chất phớng xạ. Các hoạt đông khai thác chất phóng xạ (urnium), khai thác quặng và làm giàu, quá trình khai thác gây làm biến đổi bề mặt địa hình, phóng thích chất độc vốn có trong đất làm ô nhiễm nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm. Quá trình sử lí chất thải phóng xạ thường áp dụng là biện pháp chôn lấp chất thải phóng xạvà một số chỉ là sự đổ bỏ đi. Sự chôn lấp chất thải phóng xạ được áp dụng như những chất thải bình thường theo quy trình nhất định, tại vị trí thích hợp…Đối với một số chất thửi ở nồng độ thấp phương pháp đơn giản của một số nước phát triển dơn giản chỉ là sự tong khứ chúng tới nơi mà ít người biết đến, nơi đó có thể là vùng đất hoang hay là vùng biển và đại dương. VI. KẾT LUẬN

Rác thải hiện nay dang là vấn đề lớn đối với con người. Rác không chỉ là vấn đề riêng của từng quốc gia trong khu vực mà nó là vấn đề chung của tất cảc các nước trên thế giới cần có sự hợp tác giúp đỡ nhau trong việc sử lí rác thải. Hơn thế nữa, các quốc gia cần có tiếng nói chung trong việc đổ bỏ chất thải ra môi trường biển. Mỗi công dân cần có ý thức trong việc bảo vệ môi trường, không vứt rác bừa bãi và xây dựng thói quen phân loại rác thải tại nguồn.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful