2.

NGUYÊN NHÂN NGHÈO ĐÓI Ở VIỆT NAM
2.1. Nguyên nhân lịch sử ( trước thời kì đổi mới )
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ hoang, bom mìn, nguồn nhân lực chính của các hộ gia đình bị sút giảm do mất mát trong chiến tranh, thương tật, hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến tranh, học tập cải tạo trong một thời gian dài. Chính sách nhà nước thất bại: sau khi thống nhất đất nước việc áp dụng chính sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính sách giá lương tiền đã đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế vốn đã ốm yếu của Việt Nam làm suy kiệt toàn bộ nguồn lực của đất nước và hộ gia đình ở nông thôn cũng như thành thị, lạm phát tăng cao có lúc lên đến 700% năm. Hình thức sở hữu: việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và tập thể của các tư liệu sản xuất chủ yếu trong một thời gian dài đã làm thui chột động lực sản xuất. Việc huy động nguồn lực nông dân quá mức, ngăn sông cấm chợ đã làm cắt rời sản xuất với thị trường, sản xuất nông nghiệp đơn điệu, công nghiệp thiếu hiệu quả, thương nghiệp tư nhân lụi tàn, thương nghiệp quốc doanh thiếu hàng hàng hóa làm thu nhập đa số bộ phận giảm sút trong khi dân số tăng cao. Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị lao động, không được đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính sách quản lý bằng hộ khẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn cản nông dân di cư, nhập cư vào thành phố. Thất nghiệp tăng cao trong một thời gian dài trước thời kỳ đổi mới do nguồn vốn đầu tư thấp và thiếu hệu quả vào các công trình thâm dụng vốn của Nhà nước.

2.2. Các nguyên nhân theo vùng địa lý
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ cấu sản xuất đa phần dựa vào nghề nông. Đa số người nghèo sống bằng nghề nông nên dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, điều kiện thời tiết không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, khả năng đối phó và khắc phục rủi ro này của người nghèo rất kém do nguồn thu nhập thấp, bấp bênh và khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khỏe,...). Với năng lực kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn trong cuộc sống của họ và tất nhiên người nghèo thì càng nghèo hơn. Ngoài ra, người nghèo chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, năng suất thấp do không có trình độ để áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất. Khả năng nâng cao

2. Các nguyên nhân từ cộng đồng: Sự cách biệt với xã hội còn lớn. (54%) Nguồn: TCTK. người giàu hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn những người nghèo và như vậy đã làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo giữa nội thành và ngoại thành là điều khó tránh khỏi. nếu có cũng ít được đi học cao. quy mô gia đình nhiều con ở khu vực ngoại thành là áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo đồng thời tỷ lệ người ăn theo cao trong các hộ nghèo chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của họ. Phụ nữ thường phải nhận mức lương thấp hơn nam giới ở cùng một công việc và ít được tham gia vào các công việc điều hành quan trọng. sâu bọ hay giá nông sản thấp. ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định. an toàn tình dục. Họ có ít thời gian để tiếp xúc với xã hội. Thành kiến về vai trò của người phụ nữ còn tương đối khắc khe. dịch bệnh. Thông thường. Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh. tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp. Dân số tăng nhanh. cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói. 2. Các nguyên nhân về mặt nhân khẩu học: Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói. Các nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế hộ gia đình Tính ổn định và liên tục của nguồn thu nhập còn hạn chế nhất là trong khu vực nông thôn do phải chịu nhiều rủi ro không lường trước được như thiên tai. Tỉ lệ phụ thuộc còn cao. Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2005-2007.năng suất là rất khó khăn trong khi do áp lực của đô thị hóa ngày càng mạnh. Những người nghèo là những người thường có trình độ học vấn thấp. Hộ nghèo có chủ hộ là nữ cảm thấy rất xa lạ với những quyết định có liên quan tới chính bản thân họ. 2. Những nhóm dân tộc thiểu số nghèo hơn rất nhiều so với đa số người Kinh. Chẳng may trong trường hợp mất đi người chồng. Công việc của phụ nữ thường là ở nhà. Trẻ em gái ít được đi học hơn . Sự bất bình đẳng giữa các dân tộc vẫn còn tồn tại. Việc phân phối lợi ích tăng trưởng trong các nhóm dân cư gồm cả các nhóm thu nhập phụ thuộc vào đặc tính của tăng trưởng chưa hợp lý. Những tác động của chính sách vĩ mô đến người nghèo chưa hợp lý. Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đủ để đảm bảo cho nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện nâng cao trình độ của mình . sức khỏe sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế. diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp. Tỷ lệ sinh con trong các hộ gia đình nghèo và khu vực nông thôn thường là rất cao.3. người phụ nữ thường thiếu khả năng chống chọi nên dễ rơi vào đói nghèo.5.4. Những hộ có chủ hộ là nữ có nhiều khả năng rơi vào cảnh nghèo hơn so với chủ hộ là nam giới.

Đây là những trường hợp rất khó để thoát nghèo cho dù các biện pháp chính sách có tốt đến đâu đi chăng nữa. Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn nhân lực của họ. Ý chí vươn lên thoát nghèo của người dân còn thấp. Nhiều người không thật sự muốn làm ăn. nhiều ngôi nhà mới được xây dựng nhưng đó là những ngôi nhà của những người ở nơi khác đến. thực vật. chuyển dịch cơ cấu cây trồng. chỉ thoát được cảnh đói nghèo trong một thời gian ngắn. những công việc mang lại thu nhập cao và ổn định. .. họ vẫn giữ các phương thức sản xuất truyền thống với giá trị kinh tế thấp. Một số cá nhân khác do có vấn đề tâm lý (làm ăn thất bại. Thứ hai. do không có tài sản thế chấp. Nếu tìm được chỗ làm cũng chỉ là lao động phổ thông. Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực. vật nuôi có giá trị kinh tế cao. khu chế xuất. khi diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp không tìm được việc làm mới. Trình độ học vấn thấp làm hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các khu vực khác. Một mặt. khi giá đất tăng lên do tác động của đô thị hóa. vật nuôi còn thấp. bởi lẽ do trình độ học vấn thấp họ khó có thể tìm được việc làm tốt hơn trong các khu công nghiệp. Một số người khác sau khi nhận được số tiền đền bù từ mảnh ruộng của mình trong các dự án quy hoạch không biết sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả dẫn đến hệ quả là: Thứ nhất. bảo vệ động. phân bón… đã làm tăng chi phí tính trên một đơn vị giá trị sản phẩm. đa số người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể hoặc sử dụng vốn vay không đúng mục đích. đất canh tác cũng thu hẹp lại. thậm chí khi chưa đến mức bần cùng họ cũng không thể hiện chút nỗ lực nào.trong tương lai để thoát nghèo. thiếu cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao. các yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như: điện. họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và thiếu nguồn lực. Xu hướng này tất yếu dẫn tới một bộ phận không nhỏ nông dân sống ở các huyện ngoại thành phải chuyển đổi nghề nghiệp... Thông thường họ lựa chọn phương án sản xuất tự cung. tự cấp. khuyến ngư. đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ sản xuất nông nghiệp như khuyến nông. tức là phải tăng năng suất trên một đơn vị diện tích đất canh tác nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp. bài bạc…). gia đình đỗ vỡ…) nên không thiết tha với cuộc sống và trở nên rất tiêu cực (nghiện rượu. hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn trả vốn. quanh năm họ chỉ trông chờ vào sự cứu trợ của chính quyền. giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng. vật nuôi. giống cây trồng. đồng thời nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói. Các khu công nghiệp. nước. Mặt khác. thiếu tính cạnh tranh trên thị trường. nhưng trên thực tế không phải nông dân nào cũng biết cách thay đổi “phương thức sản xuất” của mình. khu chế xuất và khu đô thị mới ngày càng phát triển ở khu vực ngoại thành là cơ hội cho người dân sống nơi đây nhưng đồng thời đây cũng là thách thức lớn đối với người nghèo. vẫn tồn tại thái độ tiêu cực với cuộc sống. thất nghiệp gia tăng Thứ ba. người nông dân bán đất ồ ạt. người nghèo phải dựa vào tín chấp với các khoản vay nhỏ. trong các ngành phi nông nghiệp.. vì vậy người nông dân khó có cơ hội để duy trì hoạt động sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó. do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước cũng như các tổ chức tín dụng. ngược lại là tìm mọi cách để có tên trong sổ nghèo với hi vọng được thụ hưởng một số quyền lợi cho không.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful