1

Thành Viên Nhóm
1. Nguyễn Lê Hoàng 2. Hoàng Văn Phúc 3. Lê Bảo Trung 4. Hoàng Trọng Đức 5. Phạm Tuấn Vũ 6. Nguyễn Văn Thắng 7. Đinh Thùy Nhung 8. Hữu Thanh Mai 9. Hoàng Trọng Việt 10. Nguyễn Tuấn Dũng

2

B.quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng nhà nước. 1. Tổng quan chung về NHNN và cách thức tác động đến nền kinh tế của ngân hàng nhà nước. Cung ứng tiền thay đổi làm biến động giá cả. sản lượng quốc gia. Điều này kích thích tiêu dùng cho cuộc sống và cho đầu tư nhiều hơn. Mọi họat động của NHNN đều ảnh hưởng mật thiết đến cung ứng tiền trong nền kinh tế.Ngân hàng nhà nước là gì? Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của chính phủ.Chính sách điều hành lãi suất của NHNN trong thời kỳ khủng hoảng 2008 – 2009 I. do đó một cách gián tiếp mọi họat động ngân hàng ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế. Chính sách cung ứng tiền nới lỏng làm cho tiền tệ trở nên dồi dào hơn. Sự gia tăng tiêu dùng và đầu tư làm sản xuất liên tục được mở rộng.Vai trò điều tiết vĩ mô ngân hàng nhà nước.NHNN là gì và cách thức tác động tới nền kinh tế của NHNN A. hoạt động ngân hàng và chức năng Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. tuyển 3 . Sự khác biệt trong chính sách cung ứng tiền là khoảng cách giữa chính sách cung ứng nới lỏng và chính sách cung ứng thắt chặt. thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ.

Các 4 . Khi ngân hàng trung ương điều tiết cung ứng tiền tức là nó bắt đầu tiến hành điều tiết nền kinh tế.1. Các công cụ điều tiết chủ đạo *Lãi suất chiết khấu Lãi suất chiết khấu là lãi suất mà NHNN đánh vào các khoản tiền cho các ngân hàng thương mại vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc bất thường của các ngân hàng này.ngân hàng trung ương luôn phải phát huy tốt các công cụ điều tiết của mình. Chính sách cung ứng tiền thắt chặt làm cho chi phí để có tiền cao hơn và tiền trở nên khan hiếm. 2. thu nhập quốc dân giảm và nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái. điều này dẫn đến tổng cầu giảm và giá cả hạ. Cái giá phải trả là sản xuất bị thu hẹp.2. thất nghiệp tăng.tỷ giá hối đoái…Vì vậy. Với vai trò đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Sản xuất thiếu vốn. người mua thiếu tiền buộc phải cắt giảm chi tiêu và đầu tư.khủng hoảng. Nền kinh tế tăng trưởng với giá cả tăng cao hơn trước. giảm thất nghiệp và gia tăng thu nhập quốc dân.đồng thời phải có những hành động kịp thời trước những biển động bất thường của nền kinh tế:lạm phát. Khi nào NHNN cần tác động tới thị trường và các công cụ điều tiết chính của NHNN. Quy định lãi suất chiết khấu là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ nhằm điều tiết lượng cung tiền. 2. Do đó cung ứng tiền là sức mạnh đầy quyền lực của ngân hành trung ương.mộ thêm công nhân. Các công cụ tài chính NHNN sử dụng để tác động đến thị trường tài chính.biến động lãi suất.

*Nghiệp vụ thị trường mở Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động NHNN mua vào hoặc bán ra những giấy tờ có giá của chính phủ trên thị trường. ngân hàng trung ương tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng. theo nghiệp vụ thị trường mở chỉ là việc mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn như tín phiếu kho bạc chứng chỉ tiền gửi.ngân hàng thương mại phải tính toán tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và họ có một tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi an toàn tối thiểu. Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá. Tại Việt Nam. các ngân hàng thương mại không thể để cho tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm xuống đến mức tối thiểu cho phép. tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. Tỷ lệ này ngoài quy định của NHNN về tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của ngân hàng thương mại và dự trữ của NHTM thường lớn hơn dự trữ bắt buộc. từ đó điều tiết lượng cung tiền và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường. Nếu lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường. thậm chí phải dự trữ thêm tiền mặt để tránh phải vay tiền từ NHNN với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường khi phát sinh nhu cầu tiền mặt bất thường từ phía khách hàng. *Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 5 . Khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt thực tế của ngân hàng thương mại giảm xuống đến gần tỷ lệ an toàn tối thiểu thì họ sẽ phải cân nhắc việc có tiếp tục cho vay hay không vì buộc phải tính toán giữa số tiền thu được từ việc cho vay với các chi phí liên quan trong trường hợp khách hàng có nhu cầu tiền mặt cao bất thường: Nếu lãi suất chiết khấu bằng hoặc thấp hơnlãi suất thị trường thì ngân hàng thương mại sẽ tiếp tục cho vay đến khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm đến mức tối thiểu cho phép vì nếu thiếu tiền mặt họ có thể vay từ NHNN mà không phải chịu bất kỳ thiệt hại nào.

lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam .2. Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt. lãi suất huy động đầu 6 . lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước. Ảnh hưởng của lãi suất tới các ngân hàng thương mại và qua đó là ảnh hưởng tới nền kinh tế. do Ngân hàng Nhà nước công bố. do Ngân hàng Nhà nước công bố. lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung cầu vốn.2. Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng. các tổ chức tín dụng không được cho vay với lãi suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản. Theo luật ngân hàng nhà nước. hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của NHNNvề về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản. làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh. Theo Luật Dân sự. A. lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho VND. 2.Ảnh hưởng của lãi suất do NHTW ấn định tới các NHTM Tác động chủ yếu bởi 3 loại lãi suất sau: Lãi suất cơ bản : là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong ngắn hạn. Theo Luật Ngân hàng Nhà nước. *Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của NHNN trong ngắn hạn. Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này. lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước. Như vậy lãi suất cơ bản là công cụ rất mạnh tác động trực tiếp đến lãi suất huy động và cho vay của các NHTM. làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh.Dự trữ bắt buộc. Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng. thường là từ NHNN để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

và sau đó họ bán lại các khoản này co NH TW để đổi lấy lương tiền mặt. Lãi suất tái cấp vốn : cũng gần giống như vậy nhưng đối tượng ở đây là các khoản cho vay của các NH TM... Là căn cứ để các NHTM ấn định mức lâĩ suất kinh doanh của mình và tạo khung lãi suất kinh doanh.. Các lãi suất này khác nhau tùy vào loại chứng từ đem ra chiết khấu. . Trái phiếu . Lãi suất tái chiết khấu : là lãi suất thực hiện trên cơ sở đối tượng là các giấy tờ có giá.Các ngân hàng sẽ chấp nhận trả tiền cho người cầm (hoặc sở hữu các giấy đó để đổi lại một khoản lời mà ta gọi là lãi suất chiết khấu và thu lại khoản tiền của họ đối với người thanh toán ghi trên đó khi đến hạn. Ảnh hưởng tới tổng thể nền kinh tế 7 . B. vào từng thời điểm theo chính sách tiền tệ của NHTW theo sự lèo lái của chính phủ mỗi quốc gia.. VD: Hối phiếu.vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung-cầu vốn. các tổ chức tín dụng không được cho vay với lãi suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản. ta gọi đó là lãi suất tái chiết khấu. lệnh phiếu. Tăng nguồn vốn cho NHTM khi yêu cầu sử dụng lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn đối với NHTW. Ảnh hưởng tới lãi suất liên ngân hàng giữa các ngân hàng khi vay lẫn nhau. Các ngân hàng này lại cần tiền nhưng các giấy tờ đó chưa đến hạn thanh toán họ bán lại các khoản sẽ thu này cho NH TW để đổi lấy tiền mặt và bớt lại cho NHTW một khoản. Theo Luật Dân sự.. vào các khoản vay của NH. Tác động tới tài khoản tiền gửi của các chủ thể kinh tế và lượng cung tiền ra thị trường của các NHTM(khoản cho vay và đầu tư).

khiến doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp sản xuất. nên tác động tiêu cực tới tổng cầu. Giãn thợ còn làm giảm thu nhập của người lao động. do đó tác động tiêu cực tới tổng cầu. Nó còn khiến cho việc trả nợ các khoản vay cầm cố hiện thời trở nên khó khăn hơn khiến người đi vay phải giảm tiêu dùng để còn trả nợ Tổng cầu vì thế chịu tác động tiêu cực. Kiềm chế được lạm phát b)khi lãi suất thị trường giảm 8 . Điều này làm cho tỷ giá hối đoái giữa nội tệ với ngoại tệ giảm xuống.Thông qua tỷ giá hối đoái Lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất ở nước ngoài sẽ khiến cho dòng vốn từ nước ngoài tăng cường chảy vào trong nước. .a)Khi lãi thị trường suất tăng -Thông qua vay nợ Lãi suất tăng làm giảm vay nợ +)Cá nhân giảm đi vay +)tăng gửi tiết kiệm động tiêu cực tới tổng cầu. Điều này làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. khi lãi suất tăng người ta sẽ giảm nhu cầu vay để xây hay mua nhà. Điều này khiến họ giảm tiêu dùng Tổng cầu lại chịu tác động tiêu cực. Doanh nghiệp giảm vay mới và do đó giảm đầu tư mới. Mặt khác. có nghĩa là giá vốn tăng hay chi phí sản xuất tăng. do đó giảm tiêu dùng và tác Đối với hoạt động vay cầm cố. do đó đầu tư xây nhà giảm. ảnh hưởng tiêu cực tới tổng cầu. Xuất khẩu ròng vì thế giảm cho tổng cầu giảm theo. lãi suất tăng còn có nghĩa là giá cả các khoản vay hiện thời của doanh nghiệp tăng.

1. Theo Tổng cục Thống kê ngày 31-12-2007. điều này khiến cho các doanh nghiệp lời nhiều hơn khi đầu tư với mức lãi suất thấp.và tiết kiệm ít hơn khi ấy tiêu dùng sẽ tăng lên làm cho tổng cầu trong nền kinh tế cũng tăng. Chúng ta sẽ tìm hiểu cách chính sách điều lãi suất của Ngân hàng Nhà Nước trong thời kỳ kinh tế đầy biến động giai đoạn 2008 – 2009. Tác động của ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế và cơ chế điều hành lãi suất của NHNN.Khi lãi suất cho vay thấp: mọi người sẽ vay tiền nhiều hơn vì chi phí phải trả là thấp hơn. vai trò của Ngân hàng Nhà Nước cũng như cách thức Ngân hàng Nhà Nước tác động đến nền kinh tế thông qua chính sách điều hành lãi suất. II. nguồn thu lại từ những khoản đầu tư như vậy thì có giá trị hơn tại thời điểm ấy ( tức là thời điểm khi mà lãi suất thấp) hơn khi là lãi suất cao. Lãi suất thấp cũng khiến cho các nhà sản xuất. Có thể nói trước thời kỳ khủng hoảng kinh tế VN đang trên đà phát triển với những kết quả cực kỳ ấn tượng trong giai đoạn từ 2005 đến cuối năm 2007. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế tuy nhiên song song với nó sẽ là vấn đề lạm phát Qua việc hiểu về chức năng. và cũng theo đà đó mà giúp kinh tế phát triển nhanh hơn vì nang suất lao động tăng mạnh. các chủ nông nghiệp và các cơ sở kinh doanh khác dễ dàng mượn vốn và đầu tư vào thiết bị hoặc những phạm trù cần các chi phí lớn khác. tổng sản phẩm trong 9 . Thêm vào đó.Nền kinh tế Việt Nam trước khủng hoảng và tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại.

bằng 40. Nó gây ra sự đổ vỡ của hàng loạt hệ thống ngân hàng.9 nghìn tỷ đồng. ước tính năm 2007 đạt 20.4 tỷ USD. lâm nghiệp tăng 1% và thuỷ sản tăng 11%. trong đó tất cả các mặt hàng chủ yếu đều tăng.9%. tăng 4. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 ước tính tăng 17.9% năm 2007.3% so với năm 2006 và vượt 56.4% GDP (đạt kế hoạch đề ra 40% GDP) và tăng 15.86 tỷ USD. tăng 69. tăng 21. Chúng ta đều biết cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007 bắt nguồn từ Mỹ với nguyên nhân chủ yếu là bong bóng thị trường nhà đất với việc các ngân hàng nước này quá dễ dãi khi cho khách hàng vay tiền để mua bất động sản qua các hợp đồng cho vay không đạt tiêu chuẩn.28. tăng trưởng kinh tế năm 2007 của nước ta đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực. đạt kế hoạch đề ra (8. hoạt động tín dụng của các ngân hàng. Tác động của khủng hoảng kinh tế đối với thế giới và với Việt Nam. tình trạng đói tín dụng. 2.1% năm 2005 lên 53.8% so với năm 2006. Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đánh giá. Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao có tác động tích cực tới hoạt động huy động vốn. Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 theo giá thực tế ước đạt 461.1% so với năm 2006. Tốc độ huy động vốn tăng mạnh từ 32.3 tỷ USD. trong đó nông nghiệp tăng 2. Giá trị sản xuất của khu vực nông. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng khá.5% so với năm 2006.5%). tình trạng 10 .48% so với năm 2006. trong đó vốn cấp phép mới là 17.nước (GDP) ước tính tăng 8.6% so với năm 2006.Giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2007 ước đạt gần 48.3% kế hoạch cả năm. lâm nghiệp và thủy sản năm 2007 theo giá so sánh năm 1994 ước đạt gần 200 nghìn tỷ đồng. Nền kinh tế Việt Nam năm 2007 có sự tăng trưởng toàn diện trong hầu hết các lĩnh vực.

Diễn biến thay đổi lãi suất chính sách của Mỹ.Chỉ số công nghiệp Down Jonh cũng giảm liên tục từ cuối quý III năm 2007.sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ ở quy mô lớn trên thế giới. 11 . Qua biểu đồ ta thấy. lãi suất chính sáchh của Mỹ ( Đường màu xanh ) sau một thời gian dài đi lên từ năm 2004 tới năm 2007 đã có sự sụt giảm mạnh trong giai đoạn sau năm 2007 cho thấy sự ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng kinh tế. Là hậu quả của chính sách không kiểm soát chặt tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Mỹ.

Chỉ số tăng trưởng các tháng cuối năm giảm. ở Châu Âu chỉ số FTSE 100. thị trường chứng khoán liên tục giảm điểm và giảm mạnh từ 12 . DAX. Ở Nhật Bản. CAC liên tục giảm điểm.Thị trường tài chính thế giới bị ảnh hưởng nhanh chóng.Từ cuối năm 2008 nền kinh tế Việt Nam đã bị tác động. chỉ số Nikkei 225 có thời kỳ sụt giảm dài từ năm 2007. Chỉ số nickkei 225 Viêt Nam cũng không tránh khỏi cơn bão khủng hoảng đó.

3.Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN trong giai đoạn 2008 – 2009. 3. lãi suất trên thị trường liên ngân hàng trong thời gian này có thời điểm lên đến 35%/năm. Để bù đắp thiếu hụt thanh khoản. CPI của Việt Nam trong 6 tháng tăng bình quân là 15. một tình huống khó lường là các NHTM đã không phản ứng kịpthời trước việc thắt chặt CSTT nên vẫn tiếp tục đẩy mạnh tín dụng. 13 . Vậy trong giai đoạn khó khăn đó. nếu tình trạng này cứ tiếp tục kéo dài. áp lực lạm phát gia tăng mang tính toàn cầu. NHNN đã có những biện pháp điều chỉnh nhằm cải thiện nền kinh tế.300 tỷ đồng cho các NHTM. mức thâm hụt cán cân thương mại ở mức kỷ lục (hơn 14% GDP). cùng với việc quản lý thanh khoản của các NHTM còn bất cập đã gây nên tình trạng thiếu khả năng thanh khoản tại nhiều NH.Sự điều tiết của NHNN trong 6 tháng đầu năm 2008 Trong 6 tháng đầu năm. Trong tình hình đó. NHNN đã điều hành chính sách lãi suất như thế nào giúp con tàu kinh tế Việt Nam vượt qua sóng gió? 3. khả năng đổ vỡ hệ thống NH có thể xảy ra. Trước những tình hình trong nước cũng như thế giới. việc điều hành chính sách tiền tệ đã trở thành tâm điểm chú ý.cuối tháng 8 năm 2008 do thị trường đã có một khoảng thời gian trước sụt giảm cộng thêm với tâm lý e ngại. các nhà đầu tư ngoại đẩy mạnh bán ròng khiến thị trường kết thúc năm với sự sụt giảm gần 70% giá trị thị trường. các NHTM đã đua nhau tăng lãi suất huy động vốn trên thị trường. Tiếp đó là quyết định số 346/QĐ – NHNN về việc phát hành tín phiếu bắt buộc 20.Trong điều kiện diễn biến phức tạp của nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đưa ra quyết định số 187/2008/QĐ – NHNN việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và mở rộng diện tiền gửi phải dự trữ bắt buộc ở tất cả các kỳ hạn (trước đây chỉ có tiền gửi dưới 24 tháng phải dự trữ bắt buộc). tháng 2 và tháng 3.1. Tuy nhiên.03%.

.Sự điều chỉnh phù hợp với tình hình biến động kinh tế thê giới trong 6 tháng cuối năm 2008.. Tuy nhiên.. tăng cường thanh tra. do vậy buộc NHNN phải quy định trần lãi suất huy động tiền gửi của các NHTM không được vượt quá 12% ( Công điện số 02/CĐ – NHNN ngày 26/02/2008). Anh và nhiều nước thuộc khu vực Euro Zone. Giải pháp trên đã có tác động nhanh chóng. chuyển từ đấu thầu lãi suất sang đầu thầu khối lượng.2.Trước diễn biến thị trường như vậy. theo đó quy định các NHTM cho vay nền kinh tế không vượt quá 150% lãi suất cơ bản và mức lãi suất cơ bản được điều chỉnh từ mức 12%/năm lên 14%/năm ( Quyết định số 16/2008/QĐ – NHNN ). thắt chặt điều kiện mở chi nhánh. NHNN thực hiện cơ chế điều hành lãi suất mới.. Mỹ. Kinh tế thế giới đang từ xu hướng suy thoái kinh tế gắn lạm phát sang 14 . tích cực “giảm đà tăng lãi suất huy động của các NHTM” chỉ trong vài ngày. Bước sang tháng 7 năm 2008.3. Bước tiếp theo để tiếp tục tạo sự bình ổn thị trường bền vững qua cú “sốc” tháng 3. giám sát hoạt động tín dụng của các NHTM. như Nhật. tình hình kinh tế thế giới diễn ra theo chiều hướng bất ổn rõ nét: Từ khủng hoảng thị trường nhà đất của Mỹ chuyển sang khủng hoảng tài chính mang tính toàn cầu.. giá dầu và giá lương thực giảm mạnh kéo theo giá các mặt hàng tiêu dùng khác giảm theo. các biện pháp chính sách trên chưa ngăn chặn được đà tăng lãi suất huy động và mở rộng tín dụng của các NHTM. tháng 5. 3. Nhận xét: Quy định này như là một liệu pháp mạnh mang tính tình thế đã có tác động ổn định lãi suất và tăng trưởng tín dụng đã chậm lại từ tháng 5 cho đến hết năm 2008. NHNN đã kịp thời tăng tính thanh khoản cho thị trường bằng cách bơm mạnh tiền qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO). suy thoái kinh tế đã xảy ra ở hầu hết nền kinh tế chủ chốt.

kích thích đầu tư. nhất là thị trường tài chính Việt Nam còn nhỏ.3%. lãi suất tái cấp vốn cũng được hạ tương ứng. Lãi suất cơ bản từ mức 14%/năm sau 4 lần hạ hiện xuống còn 8.. trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND… Để kích thích kinh tế chống lại nguy cơ giảm phát. khuyến khích các NHTM mở rộng cho vay. bắt đầu từ tháng 10. để các NHTM có điều kiện hạ lãi suất cho vay hỗ trợ cho các doanh nghiệp duy trì và mở rộng sản xuất. Để cứu nguy cho tình hình này. . Trong tình hình kinh tế thế giới như vậy. NHNN đã phải tiếp tục áp dụng một số biện pháp hỗ trợ thị trường như nâng lãi suất tín phiếu bắt buộc... biên độ dao động tỷ giá được nâng từ từ +/-2% lên +/. mặc dù những tháng cuối năm 2008 mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế Việt Nam. hầu hết các nền kinh tế chủ chốt đã thực hiện CSTT và chính sách tài khóa nới lỏng nhằm tăng tính thanh khoản cho thị trường.. các loại lãi suất chỉ đạo đã liên tục được hạ xuống theo một lộ trình thích hợp. song để ngăn chặn ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và giảm áp lực lạm phát vẫn diễn ra ở Việt Nam đến tận tháng 9. Nhận xét: Hành động này nhằm tạo sự hợp lý giữa các công cụ CSTT. NHNN đã có sự chỉ đạo chuyển hướng chiến lược từ điều hành chính sách tiền tệ “ thắt chặt “ chống lạm phát sang chính sách tiền tệ “ nới lỏng “ với mục tiêu hàng đầu là ngăn chặn suy giảm kinh tế.5%. khuyến khích xuất khẩu trong điều kiện kinh tế thế giới suy thoái. giảm một phần chi phí hoạt động cho các NHTM. lãi suất tái chiết khấu.suy thoái kinh tế gắn với giảm phát đang là nỗi lo của các quốc gia hiện nay. Diễn biến lãi suất chủ đạo và lãi suất thị trường từ tháng 5/2008 – 7/2009 Đơn vị: %/năm 15 .

16 .

NHNN có thông tư số 01. 17 .Đứng trước tình tình đó 6 tháng đầu năm 2009 Ngân hàng nhà nước đã có nhiều biện pháp liên quan đến việc chỉ đạo các loại lãi suất để kích thích tăng trưởng kinh tế. Tình hình điều chỉnh chính sách lãi suất của NHNN năm 2009 Năm 2009 kinh tế thế giới khủng hoảng nghiêm trọng vì vậy mục tiêu hàng đầu của chính phủ cũng như ngân hàng nhà nước là dẫn dắt kinh tế tăng trưởng và tránh khỏi suy thoái. cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.3.3. hướng dẫn về lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống.cụ thể: Áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận đối với cho vay tiêu dùng nhằm kích thích chi tiêu trong nền kinh tế.3. Ngày 23/1/2009.

Mặt khác do tác động phụ của chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay bằng VND và việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND. lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam được điều chỉnh giảm từ 8. tình hình cung cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng dẫn tới áp lực tăng tỉ giá khiến nguy cơ giá cả nhập khẩu tăng dẫn đến CPI tăng và lạm phát tăng. đồng thời mở rộng biên độ tỷ giá mua bán USD/VND của các NHNN từ +/3% lên +/-5% kể từ ngày 24/3/2009 Qua những biện pháp điều chỉnh. các doanh nghiệp có tâm lý găm giữ ngoại tệ. lãi suất tái chiết khấu từ 7. lo ngại rủi ro biến động tỷ giá. lãi suất tái cấp vốn giảm từ 9.Từ tháng 2/2009 NHNN đã duy trì ổn định mức lãi suất hợp lý. dẫn đến nhu cầu mua ngoại tệ tăng mạnh. Theo đó.đồng thời cũng làm cho các doanh nghiệp 18 .5%/năm xuống còn 5%/năm. Do áp lực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. nhiều doanh nghiệp không muốn vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ.5%/năm xuống 7%/năm. thị trường ngoại hối có những diễn biến không thuận lợi. từ đó giảm mặt hàng lãi suất cho vay. Thực hiện hoán đổi ngoại tệ để giảm bớt căng thẳng mất cân đối giữa nguồn và sử dụng nguồn vốn Việt Nam đồng và ngoại tệ.5%/năm xuống 7%/năm. thị trường tiền tệ từng bước được bình ổn. tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2009.

Với chủ trương của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong năm 2009 là ổn định mặt bằng lãi suất. Trong giai đoạn cuối năm 2009 NHNN đã có sự thay đổi trong việc quy định lãi suất cơ bản. NHNN vẫn khẳng định sẽ giữ mức này tối thiểu đến hết năm 2009. vốn dĩ đã chạy đua tăng lãi suất với kỳ vọng thu hút được vốn) đều cho biết.Trước tình hình đó. các ngân hàng (kể cả khối ngân hàng cổ phần. trần lãi suất kinh doanh tại các ngân hàng thương mại sẽ là 12%/năm. yêu cầu các NHTM nhà nước giảm lãi suất cho vay và huy động bằng ngoại tệ (lãi suất cho vay giảm từ mức 6-6. Với mức lãi suất cơ bản mới.5%/năm kể từ ngày 01/6/2009). cùng với quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản . rộng rãi các thông tin về tình hình ngoại hối. áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp và người dân như đẩy mạnh công tác tuyên truyền và công bố công khai. các ngân hàng sẽ có nhiều lựa chọn hơn để “kéo” khách hàng đến gửi tiền. áp dụng từ ngày 1/12/2009. NHNN cũng tăng một loạt lãi suất tái cấp vốn (từ 7% lên 8%/năm) và lãi suất chiết khấu (từ 5% lên 6%/năm). NHNN công bố quyết định tăng lãi suất cơ bản lên mức 8% năm. Ngày 25/11/2009. bởi trong 11 tháng liên tiếp duy trì lãi suất cơ bản ở mức 7%/năm. Vì vậy. khó 19 .5%/năm. không gây xáo trộn thị trường. thay vì mức 10.nhập khẩu gặp nhiều khó khăn trong việc tìm nguồn ngoại tệ để thanh toán.NHNN . Các mức lãi suất mới này cũng sẽ có hiệu lực từ ngày 1/12. Đây là quyết định khá bất ngờ. tăng cơ hội giành nguồn vốn từ các kênh đầu tư khác như vàng hay chứng khoán. tỷ giá. NHNN có thêm chỉ đạo các ngân hàng thương mại nhà nước không được nâng lãi suất huy động tiền gửi lên mức 10. Với trần lãi suất kinh doanh 12%/năm theo mức lãi suất cơ bản mới. lãi suất huy động giảm xuống mức không quá l. qua đó gián tiếp hạn chế tín dụng bằng cách tăng chi phí vốn của các ngân hàng thương mại.5%/năm trước đó.5%/năm xuống không quá 4%/năm kể từ ngày 15/4/2009 và giảm tiếp xuống mức không quá 3%/năm kể từ ngày 01/6/2009.

12 tháng lần lượt nhận được mức lãi xuất 7. 7. lên mức 8%/năm cho kỳ hạn trên 12 tháng.có thể điều chỉnh lãi suất tiền gửi tiết kiệm lên mức cao hơn so với thời gian trước đó. lãi suất huy động của các ngân hàng tăng nhẹ .44%/năm. Ngay từ những tháng đầu năm. là nhằm chuẩn bị một nguồn vốn dồi dào trước các dự báo cho rằng nhu cầu vốn của DN sẽ đặc biệt tăng mạnh trong năm 2009. Một lý giải chắc chắn cho đợt điều chỉnh lãi suất huy động mới của các NH. vốn không chỉ dừng lại ở khối các NHTMCP.7%/năm cho kỳ hạn 36 tháng. Lãi suất các kỳ hạn lần lượt được điều chỉnh tăng.004%/năm. và các kỳ hạn 6 . Ngày 12.32%/năm cho kỳ hạn 3 tháng. 7.9 . từ kỳ hạn tuần đến kỳ hạn 36 tháng.3 của các NHTM gây chú ý khi công bố áp dụng mức lãi suất huy động cao nhất 8. Các điều chỉnh tăng vì thế được thực hiện với hầu hết các kỳ hạn. Với sự điều hành chỉ đạo của NHNN như vậy đã tạo nên sự thay đổi trong việc huy động lãi suất của các NHTM trong năm 2009.524%/năm và 8. 20 .

HCM (HDBank). lãi suất huy động VND đang tiến sát về mức trần cho vay. lãi suất giao dịch mới chỉ tăng nhẹ. Ở khối NHTM Nhà nước. 9.85%/năm. 36 tháng: 9. Với kỳ hạn 18 tháng. lãi suất huy động VND không kỳ hạn phổ biến là 2.5%. kỳ hạn 3 tháng: 7.5%/năm.7% khi khách hàng gửi tiết kiệm bậc thang với kỳ hạn dài và số tiền lớn. lãi suất huy động VND không kỳ hạn phổ biến là 2. Tại khối NHTM cổ phần.75%/năm và 8.88%/năm. các kỳ hạn 3 tháng.3%.59%/năm. ngân hàng nay cũng đã áp dụng lãi suất cao nhất lên tới 9. Trong tuần đầu tiên của tháng 5. 7. các kỳ hạn 18 và 24 tháng cũng có mức cao.04%/năm. Từ tháng 8 đến tháng10/2009.85%/năm. ngay khi lãi suất của nhiều ngân hàng tăng mạnh.3%.5%. tại Ngân hàng An Bình.87%/năm dành cho không kỳ hạn.2%/năm. kỳ hạn 36 tháng.5%/năm. Cụ thể. lãi suất giao dịch mới chỉ tăng nhẹ.Từ tháng 5 đến tháng 7/2009. Ngân hàng Hàng hải Việt Nam (Maritime Bank) lãi suất tăng mạnh ở các kỳ hạn dài đều trên 9% và 36 tháng đã lên đến đỉnh 9. mức 2. kỳ hạn 3 tháng: 7. Cụ thể. 6 tháng: 7.87%/năm dành cho không kỳ hạn.5%/năm và 12 tháng là 7. mức 2. Với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển nhà TP. 6 tháng và 12 tháng có mức lãi suất tương ứng là 7. làn sóng tăng lãi suất huy động bằng VND tăng khá mạnh. 6 tháng: 7.4%/năm.88%/năm. Nhiều NHTM chỉ trong 2 tuần đã tăng lãi suất tiền gửi 2 đến 3 lần.75%/năm và 8. 60 tháng: 9. Đến tuần cuối của tháng 5. Tại khối ngân hàng thương mại cổ phần.5%/năm và 12 tháng là 7. các kỳ hạn 3 tháng. làn sóng đua tăng lãi suất huy động Việt nam đồng (VND) ở các NHTM chưa có dấu hiệu dừng do nhu cầu hấp thụ vốn của nền kinh tế tăng cao. trong tuần đầu tiên của tháng 5. 24 tháng: 9. ở khối ngân hàng thương mại Nhà nước. 7.3%. mức lãi suất đỉnh đã lên tới 9. các ngân hàng gia tăng lãi suất và đỉnh cao nhất lên đến 9. người gửi tiền được hưởng lãi suất 9%/năm.04%/năm.59%/năm.1% và 9. 6 tháng và 12 tháng có mức lãi suất tương ứng là 7. 21 .

2%/năm ở hầu hết các kỳ hạn. Lãi suất của các ngân hàng đã lên tới 9. Đến đầu tháng 11 nhóm NHTM cổ phần điều chỉnh tăng lãi suất huy động VND với mức từ 0.3%/năm) và tiếp tục tăng lãi xuất huy động 0. 24 tháng (9.3%. Đánh giá hiệu quả đạt được và bài học rút ra.10. 22 . III.99%/năm cho kỳ hạn 1 tháng. Lãi suất năm 2009 12 10 Lãi suất 8 6 4 2 0 1 2 3 4 5 6 Tháng 7 8 9 10 11 Nhìn vào biểu lãi suất cũng như tình hình biến động trong huy động lãi suất của nhưng ngân hàng chủ đạo có thể thấy thực tế lãi suất huy động tăng gần sát lãi suất cho vay đã phản ánh sự căng thẳng nguồn vốn của các ngân hàng.4%).Tiếp tục sau đó các ngân hàng thương mại đưa ra các mức lãi suất huy động cơ bản như 15 tháng (9. đặc biệt là lãi suất ngắn hạn. Đặc biệt.3%.1-0. Nhận xét: Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát.3%/năm và tăng lãi suất huy động USD từ 0.8%) hay 36 tháng (10. chính phủ phải bảo vệ lượng tiền cung ứng tăng thêm cộng với sự tác động của việc nới lỏng chính sách “ tài khóa ‘ và “ tiền tệ “ đã khiến các ngân hàng phải bước vào cuộc đua tranh lãi suất để huy động vốn. vào ngày 12/8 lãi suất huy động vốn VND đã lên tới đỉnh là 10.

Ngoài ra để điều hành chính sách lãi suất một cách hiệu quả. Trong năm 2009. B. phù hợp với diễn biến của thị trường theo hướng nới lỏng thận trọng. Lãi xuất đã được thay đổi linh hoạt và kịp thời. NHNN cần phải có một thị trường tiền tệ họat động đầy đủ. mục tiêu chính của việc điều chỉnh chính sách lãi suất của NHNN là nhằm tạo ra cú hích đến các doanh nghiệp để phục hồi nền kinh tế đang bị ảnh hưởng bới suy thoái kinh tế thế giới thông qua các ngân hàng thương mại và thực tế đã đạt được hiệu quả. mặt hạn chế của chính sách điều hành lãi suất của NHNN A. khi điều hành lãi suất theo chính sách tiền tệ thắt chặt đã ảnh hưởng đến sản xuất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ( Chiếm số lượng khá lớn trong nền kinh tế ). Tính thanh khoản của thị trường cũng được tăng lên thông qua việc ngân hàng mua trái phiếu phát hành trong tháng 3 của các tổ chức tài chính. Tính đến giữa tháng 12/2009 cả nước đã có tổng dư nợ hỗ trợ lãi suất hơn 445 nghìn tỷ đồng. Vã rõ ràng chính sách điều hành lãi suất đã kiềm chế lạm phát một cách thành công. Nhưng thị trường tiền tệ 23 .Bên cạnh đó chính sách lãi suất của NHNN còn có những mặt hạn chế. Những điểm tích cực trong cơ chế điều hành lãi suất của NHNN Trong năm 2008. chính sách tiền tệ của NHNN đã tỏ ra đi đúng hướng.Điểm tích cực. Bên cạnh đó. tạo điều kiện cho việc mở rộng hoạt động tín dụng hiệu quả. Lãi suất của dự trữ bắt buộc cũng được thay đổi linh hoạt. trong đó DNNN được thụ hưởng gần 60 nghìn tỷ đồng.1. môt nội dung quan trọng là chính sách tỷ giá đã được NHNN triển khai tốt. Đó là cái giá phải trả trong ngắn hạn để ngăn chặn đà lạm phát. Trong giai đoạn đầu năm 2008.

Bài học kinh nghiệm. Do vẫn tồn tại nhưng mặt tiêu cực trong việc thi hành chính sách lãi suất của NHNN nền một bài học cũng cần rút ra cho thực thi chính sách lãi suất. 2. đó là do chưa lường trước được phản ứng của thị trường. Chính sách lãi suất của NHNN luôn có một độ trễ nhất định.Việt Nam chưa phát triển tốt và NHNN chưa thể điều hành chính sách lãi suất một cách linh hoạt trên thị trường. 24 . NHNN cần rút được kinh nghiêm trong việc nghiên cứu. chính vì vậy có lúc chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn. làm cho các NHTM có sự chao đảo nhất định trong kinh doanh. nên các biện pháp của chính sách lãi suất phần nào gây cú sốc thị trường. cũng như chủ động hơn trong các quyết sách để trở thành người cầm lái vững chắc trên thị trường tiền tệ. đạt được hiệu quả cao hơn trong điều hành. nằm bắt chính xác mức độ phản ứng của thị trường trước những thay đổi chính sách để có liều lượng chính sách thích hợp hơn.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful