n xuất rau an toàn – cần kiên trì và những giải pháp đồng bộ Nhằm bảo đảm an toàn vệ sinh

thực phẩm, sức khỏe cho người dân, TP Thanh Hóa đã tiên phong trong việc xây dựng các mô hình trồng rau an toàn. Song, do nhiều nguyên nhân mà vài năm trở lại đây, mô hình trồng rau an toàn không được phát triển, nhân rộng... Diện tích trồng rau an toàn bị thu hẹp Ai cũng hiểu được sự quan trọng của rau trong khẩu phần Sản xuất rau an toàn ở xã Quảng Thắng, TP Thanh Hóa ăn hàng ngày, nhưng hiện nay người dân thường có tâm lý lo sợ mỗi khi ăn rau, bởi trong quá trình sản xuất, người trồng rau đã sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật, trong khi đó thời gian cách ly lại không được bảo đảm, có hộ thu hoạch rau bán sau khi phun thuốc. Trước thực trạng trên, năm 2003, TP Thanh Hóa chỉ đạo cho 4 xã Đông Hải, Đông Hương, Quảng

Thành, Quảng Thắng thực hiện thí điểm mô hình rau an toàn (RAT). Để khuyến khích phát triển và nhân rộng mô hình, chính quyền thành phố đã hỗ trợ đầu tư xây dựng công trình cấp thoát nước, điện thắp sáng, hỗ trợ máy bơm, mở lớp tập huấn về kỹ thuật trồng RAT cho người dân. Mô hình trồng RAT ngay lập tức nhận được sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân. Thời kỳ “hoàng kim” của mô hình sản xuất RAT kéo dài được 3 năm (2003 – 2005), với hơn 10 ha rau các loại như: dưa chuột, ớt, khoai tây, cà chua, hành tỏi, bắp cải, su hào... Mỗi năm người dân quay vòng được từ 4 đến 5 vụ, cho giá trị kinh tế cao gấp từ 2 đến 3 lần so với cấy lúa. Một sào RAT nếu trừ chi phí sản xuất thì trung bình mỗi năm cho lãi từ 5 đến 7 triệu đồng. Hiệu quả là thế, nhưng những năm gần đây, mô hình trồng RAT ở TP Thanh Hóa hầu như không phát triển, diện tích RAT không những không được mở rộng trên địa bàn mà còn bị thu hẹp dần. Xã Đông Hải, vốn đi đầu trong phong trào trồng và phát triển mô hình RAT, xã đã xây dựng được khu trồng RAT khá quy mô, rộng 3 ha, với nhiều chủng loại rau có chất lượng, giá trị kinh tế cao. Nhưng từ

quỹ đất sử dụng cho sản . bởi những mô hình này là do người dân tự phát làm. mô hình sản xuất RAT ở đây không còn được duy trì vì diện tích đất sản xuất RAT đã bị thu hồi để xây dựng khu tái định cư. Mô hình trồng RAT trên địa bàn thành phố chưa được phát triển. phục vụ cho dự án phát triển đô thị của thành phố. hiệu quả kinh tế đem lại từ việc trồng rau so với các công việc khác không cao. nguyên nhân chính là do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Không chỉ ở 2 xã Đông Hải. song mô hình này chỉ hoạt động được một năm rồi “đóng băng” do gặp khó khăn trong quỹ đất canh tác. Quảng Thắng cũng là xã tiêu biểu trong việc xây dựng mô hình sản xuất RAT. Hiện tại trên địa bàn xã chỉ còn hơn 1 ha trồng rau theo mô hình RAT nhưng chưa chắc nó đã an toàn.năm 2008. năm 2003. xã Quảng Thành hiện nay diện tích trồng RAT cũng đang bị thu hẹp và mất dần. xã đã xây dựng khu trồng RAT rộng 2 ha. Quảng Thắng mà cả ở xã Đông Hương. nên người dân không còn thiết tha. không có sự quản lý cũng như kiểm định gì về chất lượng và độ an toàn trong rau của bất kỳ cơ quan chức năng nào.

chủ yếu phục vụ canh tác lúa nước. sản phẩm thu hoạch chủ yếu là thương lái trực tiếp thu mua nên chưa thể tạo được niềm tin về RAT trong tâm lý người tiêu dùng. không ít hộ dân sản xuất RAT chạy theo năng suất và lợi nhuận.xuất RAT đã ít mà vùng trồng thì manh mún. Hơn nữa. chưa thực sự tin tưởng vào RAT... chia nhiều ô thửa (phần lớn diện tích chỉ ở quy mô hộ gia đình). có người còn ham rau giá rẻ. chưa tạo được thương hiệu.. ngay chính những người tiêu dùng vẫn chưa có thói quen và có ý thức trong việc mua và dùng RAT. Cần kiên trì và có những giải pháp đồng bộ . Tất cả những điều này đã và đang làm ảnh hưởng đến sự phát triển của mô hình sản xuất RAT. Hệ thống phân phối thì chắp vá. Ngược lại. nhỏ lẻ. không quan tâm đến việc bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. cho dù đã được tập huấn những kiến thức về kỹ thuật trồng RAT nhưng nhận thức về RAT của người dân trồng rau trên địa bàn vẫn còn nhiều hạn chế... hệ thống kênh mương tuy đã được đầu tư nhưng thiếu đồng bộ. cứ được giá là bán. chưa có hệ thống thủy lợi chuyên biệt cho sản xuất rau màu thực phẩm.

Bên cạnh đó. hỗ trợ cho người dân trồng RAT. bón phân cân đối về dinh dưỡng. từ đó biết trồng cây khỏe. không bón phân hữu cơ chưa qua ủ mục cũng như chọn lọc chủng loại thuốc . Kêu gọi các nhà đầu tư thực hiện nhiều dự án có quy mô lớn.Trồng RAT trên địa bàn TP phải đối mặt với nhiều khó khăn. nắm bắt được những tiêu chí cơ bản về RAT và các đặc điểm sinh lý của cây rau qua từng giai đoạn phát triển. Tổ chức xây dựng được vùng chuyên canh RAT gắn với thương hiệu của các hợp tác xã. tạo ra phong trào trồng RAT thực sự rầm rộ trong nhân dân. Đồng thời. Chính vì vậy. nhưng khó khăn lớn nhất hiện nay là TP không còn quỹ đất để thực hiện và phát triển mô hình trồng RAT. các cấp chính quyền TP cần có cơ chế chính sách mạnh hơn nữa nhằm khuyến khích. doanh nghiệp tạo niềm tin cho người tiêu dùng. cũng cần tổ chức nhiều lớp tập huấn về sản xuất RAT tới các hộ nông dân giúp họ hiểu được thế nào là an toàn. tạo được quỹ đất cho người dân sản xuất. có vậy RAT mới tìm được chỗ đứng trên thị trường. muốn phát triển và nhân rộng mô hình sản xuất RAT trước hết chính quyền TP cần phải quy hoạch.

vùng sản xuất khác thực hiện tự giám sát nội bộ và công bố tiêu chuẩn chất lượng theo quy định. tích cực triển khai nhiều mô hình sản xuất rau an toàn gắn với tiêu thụ sản phẩm như mô hình khép kín sản xuất. Làm tốt được những điều đó. giá trị 400. trang bị máy tính nối mạng theo dõi thị trường. TP Thanh Hóa sẽ có được những vùng RAT thực sự an toàn và phát triển. Toàn thành phố hiện có 25 khu nhà lưới. các đơn vị.500 m2. năng suất 90.bảo vệ thực vật. song chậm . gây khó khăn cho công tác quy hoạch. (baothanhhoa. chế biến. nhà kính trồng rau sạch quy mô 23. xây dựng thương hiệu và quầy. 10 vùng được quy hoạch bờ bao hệ thống tưới tiêu tiên tiến phục vụ sản xuất. quảng bá. Bên cạnh đó.500 triệu đồng/ha/năm. đóng gói tiêu thụ sản phẩm với quy mô 5 ha. 4 cơ sở đầu tư xây dựng nhà sơ chế rau đủ tiêu chuẩn an toàn. điểm bán RAT tạo thuận lợi cho người tiêu dùng. sơ chế. và nhất là thời gian cách ly trước khi thu hoạch được bảo đảm. trang thiết bị phục vụ sản xuất. nhỏ lẻ.vn) Thứ bảy.. Sớm quy hoạch chi tiết vật chất kỹ thuật. các nhà sản xuất. Điều đáng quan tâm là thực trạng diện tích manh mún. Đồng thời. hiện có hai đơn vị là Chi cục Bảo vệ thực vật và Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng KHCN có tư cách pháp nhân tổ chức chứng nhận chất lượng. Hiện Chi cục Bảo vệ thực vật đang thực hiện giám sát và chứng nhận chất lượng vùng sản xuất rau an toàn của Công ty CP Chế biến thực phẩm Nam Triệu. 17 Tháng 10 2009 07:00 Cung chưa đủ cầu Trên địa bàn thành phố. Ngoài ra. chỉ đạo sản xuất vùng rau an toàn diễn ra đã lâu. phân tán.. bảo quản.100 tấn/năm. phân phối cần thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền. xây dựng thương hiệu trên thị trường. thông tin khoa học kỹ thuật về sản xuất rau.

hoàn thiện qui trình sản . từ đó. Nhận thức hạn chế của một số hộ dân dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện. Ðể đảm bảo những tiêu chuẩn về rau an toàn.000ha rau màu được gieo trồng hàng vụ. quận Bình Thủy. Thành phố quan tâm. cán bộ Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng. cho thuê. việc triển khai ứng dụng những kết quả này đang gặp không ít khó khăn. tiêu thụ sản phẩm rau an toàn. phần lớn nông dân canh tác rau theo phương pháp truyền thống. chi cục BVTV Cần Thơ đã thực hiện đề tài “Triển khai ứng dụng kỹ thuật sản xuất và nghiên cứu khả năng tiêu thụ rau an toàn ở TP Cần Thơ”. thủy lợi. làm chủ nhiệm. nhóm nghiên cứu đã điều tra thực trạng sản xuất rau của nông dân tại các vùng trồng rau trọng điểm. bảo quản thiếu. lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật. năm 2003. rau an toàn chưa có nhãn hiệu. Cơ sở hạ tầng đường. tuân thủ biện pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn. đổi thửa.được khắc phục. không chú ý đến dư lượng thuốc trong sản phẩm. một số đề tài nghiên cứu sản xuất rau an toàn do TP Cần Thơ phối hợp với Trường Ðại học Cần Thơ thực hiện đã đạt kết quả khả quan. phân bón. diện tích trồng rau màu của TP Cần Thơ tăng lên theo chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. thời gian cách ly của thuốc BVTV. Bình quân. hệ thống tưới tiêu. chưa đồng bộ. lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV). Trước tình trạng đó. yêu cầu quy hoạch chi tiết vùng chuyên canh sản xuất rau an toàn theo hướng hàng hóa với số lượng lớn phục vụ thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu là cần thiết và đi trước một bước. Theo Văn Lượng / Báo điện tử Hải Phòng Thời gian qua. chế biến. Những năm gần đây. Trường Ðại học Cần Thơ. tiến sĩ Trần Văn Hai. tạo điều kiện cho người sử dụng đất dồn điền. tích tụ ruộng đất để hình thành vùng sản xuất rau an toàn. chuyển nhượng. khuyến khích các doanh nghiệp liên doanh. liên kết sản xuất. có chế chính sách khuyến khích. TP Cần Thơ. chưa xây dựng được mạng lưới tiêu thụ rộng rãi. TP Cần Thơ sắp triển khai dự án “Xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn phục vụ tiêu dùng tại Cần Thơ” nhằm giải quyết những vấn đề trên. chưa có giấy chứng nhận của các cơ quan chức năng… để tạo lòng tin cho người tiêu dùng. tập trung. chưa bảo đảm thời gian cách ly. ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất rau an toàn tại TP Cần Thơ. Tuy nhiên. phân đạm vô cơ. do: nhiều điểm trồng rau an toàn rơi vào vùng qui hoạch. khu sơ chế. Bước khởi đầu hiệu quả Một hộ trồng rau an toàn ở phường Long Tuyền. Tuy nhiên. Do vậy. Ðề tài do Phó Giáo sư. Ðây được xem là bước khởi đầu trong nghiên cứu. có trên 5.

Nhóm nghiên cứu tổ chức tập huấn và chuyển giao qui trình sản xuất rau an toàn cho nông dân trong vùng trồng rau. HTX sản xuất khoảng 3 tấn rau.577kg/ha và lợi nhuận cao hơn 6. nếu nhìn tổng quát thì TP Cần Thơ chưa xây dựng được những vùng chuyên canh sản xuất rau an toàn với qui mô và diện tích lớn. chính quyền địa phương và doanh nghiệp trong quá trình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn. quận Bình Thủy… đáp ứng phần nào nhu cầu rau an toàn của người tiêu dùng. người bán rau còn ngại tìm rau an toàn để bán vì sợ không có người mua và sợ bán không có lời. xây dựng cửa hàng kinh doanh phân phối rau an toàn. Các loại thuốc BVTV sử dụng trên rau an toàn thường là thuốc trừ sâu sinh học. Ðây là một mô hình có sự phối hợp chặt chẽ của nông dân. Tiêu biểu là mô hình che lưới trên cải xà lách trong mùa mưa tại phường Hưng Thạnh. nhà khoa học.5 đến 2. Kết quả cho thấy: năng suất và lợi nhuận của ruộng rau áp dụng theo qui trình sản xuất rau an toàn thường cao hơn ruộng canh tác theo tập quán của nông dân.xuất rau an toàn dựa trên những kỹ thuật của nông dân. Những mô hình áp dụng cho các điểm trình diễn là dùng màng phủ nông nghiệp. cung ứng cho siêu thị Metro. Ðời sống và thu nhập của thành viên HTX luôn ổn định. Một số điểm trồng rau an toàn trước đây như .44 lần/vụ tùy theo từng loại rau. Qua điều tra tình hình lưu thông rau trên thị trường và tập quán tiêu thụ rau của người tiêu dùng. quận Bình Thủy được xem là một mô hình hoạt động đạt hiệu quả cao so với các vùng sản xuất rau an toàn khác của TP Cần Thơ vì tìm được đầu mối tiêu thụ sản phẩm ổn định là siêu thị Metro. tạo thương hiệu cho rau an toàn tại TP Cần Thơ”. tìm thị trường tiêu thụ rau. rau an toàn thường có giá cao hơn rau bình thường nên đa phần người tiêu dùng có thu nhập chưa cao ngại tìm mua rau an toàn. nhà lưới đơn giản và các mô hình ứng dụng tổng hợp. huyện của TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang. Mô hình trồng dưa leo có màng phủ nông nghiệp năng suất cao hơn 5. Bình quân 1 tháng. thực hiện 62 điểm trình diễn ở các hộ dân ở 6 quận. Vì vậy. quận Cái Răng. các mô hình và kỹ thuật sản xuất rau an toàn ngày càng được nhân rộng.7 triệu đồng/ha. HTX có 12 thành viên. Một số địa phương đã đầu tư xây dựng vùng sản xuất rau an toàn như huyện Phong Ðiền. giảm ô nhiễm và ngộ độc thuốc BVTV đối với người trực tiếp sản xuất và tiêu thụ rau. Trong đó. Hợp tác xã (HTX) sản xuất rau an toàn Long Tuyền. Các điểm trồng rau an toàn còn nhỏ lẻ.5 triệu đồng/ha. năng suất cao hơn ruộng không che lưới là 8. lợi nhuận cao hơn 13. nhận xét: “75% người tiêu dùng có nhu cầu sử dụng rau an toàn để bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. manh mún vì nhiều nguyên do. Những vấn đề cần quan tâm Từ thành công của đề tài trên. Phó Giáo sư. tiến sĩ Trần Văn Hai.040kg/ha. Tuy nhiên. màu các loại. góp phần làm sạch môi trường. Mô hình đậu cove có lợi nhuận chênh lệch so với ruộng bình thường lên đến trên 18 triệu đồng/ha… Rau được sản xuất theo qui trình kỹ thuật rau an toàn hạn chế được số lần phun thuốc BVTV không cần thiết từ 0. kết hợp với kỹ thuật bảo vệ cây trồng từ các kết quả đã nghiên cứu. Bên cạnh đó. cần xây dựng vùng sản xuất rau an toàn với sự kiểm tra và giám sát của ngành chức năng. Tuy nhiên. với 5ha chuyên sản xuất rau an toàn. Còn phía người tiêu dùng không biết khi mua rau an toàn về dùng có đúng là rau an toàn hay không. từng thời vụ canh tác. chủ nhiệm đề tài.

Bài. Trước yêu cầu thực tiễn. Dự án sử dụng qui trình sản xuất rau chất lượng cao dựa trên tiến bộ kỹ thuật mới. việc xây dựng các mạng lưới kinh doanh. có bao bì. thời gian thực hiện dự án từ nay đến hết năm 2007.phường Hưng Thạnh (quận Cái Răng). Thạc sĩ Phạm Văn Quỳnh. rất ít nông hộ tự đầu tư kinh phí để trồng vì không bảo đảm được đầu ra cho sản phẩm. rất ít chợ có đầu mối tiêu thụ rau an toàn vì không có gì chứng minh với người tiêu dùng đây thực sự là rau an toàn. dự án cũng sẽ xây dựng một số cửa hàng tiêu thụ rau an toàn ở một số chợ. chủ nhiệm dự án. hệ thống các siêu thị trên địa bàn thành phố. dự án cũng hướng tới sản xuất một số rau quả sạch đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. có giấy chứng nhận của các cơ quan chức năng để người tiêu dùng tin tưởng. Trường Ðại học Cần Thơ và Chi cục Bảo vệ Thực vật thành phố xây dựng”. nông dân mới yên tâm sản xuất. Ngoài một số siêu thị có uy tín để người tiêu dùng yên tâm khi chọn mua rau an toàn. Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp TP Cần Thơ. giữa năm 2006. Song song với việc xây dựng mô hình trồng rau an toàn trong nông dân và mô hình trồng rau an toàn trong nhà lưới. Hướng đi 10:04-03/11/2008 mới cho CÁT ÐẰNG rau an toàn . các siêu thị… giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm. Ngoài ra. cung cấp rau an toàn cho các nhà hàng. liên kết với các công ty xuất khẩu rau quả có uy tín. dự án “Xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn phục vụ tiêu dùng tại Cần Thơ” vừa được UBND thành phố phê duyệt. Song song đó. ảnh: Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ. Ðây là một tin vui đối với nông dân sản xuất rau an toàn và cả người tiêu dùng. Mặt khác. phường An Bình (quận Ninh Kiều) rơi vào vùng đất qui hoạch nên nông dân không dám phát triển mô hình. đáp ứng nhu cầu tiêu dùng rau an toàn ngày càng cao. công ty du lịch. hiện đại đã được Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng. Do đó. phần lớn các vùng trồng rau an toàn được thực hiện từ kinh phí đầu tư của địa phương hoặc các dự án sản xuất. rất nhiều ý kiến đề xuất là rau an toàn cần được đóng gói. Dự kiến. phân phối rau an toàn cần được quan tâm đầu tư bởi có tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm. tổng kinh phí thực hiện dự án trên 887 triệu đồng. Thị trường tiêu thụ rau an toàn là một vấn đề đang được nhiều người quan tâm. có nhãn hiệu. cho biết: “Dự án được thực hiện nhằm tiếp tục phát triển những vùng sản xuất rau an toàn ở huyện Phong Ðiền và quận Bình Thủy.

mức tiêu thụ và thúc đẩy phát triển RAT. Hóc Môn và Thủ Đức. Chi cục Bảo vệ thực vật Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ nông nghiệp (thuộc Sở NN-PTNT TPHCM) sẽ triển khai thí điểm mô hình kinh doanh sạp rau an toàn (RAT) tại 3 chợ đầu mối Bình Điền. các sạp RAT phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP do Sở Y tế TPHCM cấp. Trong tháng 11-2008. TPHCM: Nhập hơn 70% lượng rau tiêu thụ Rau an toàn ra chợ: Hướng đi mới! Như đã nói ở trên. ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi vi phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP). đồng thời giúp người tiêu dùng an tâm hơn khi lựa chọn sản phẩm RAT không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Nguồn: Sài Gòn giải phóng Online . Theo đó. đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước trong việc kiểm soát chặt chẽ dư lượng chất độc trong rau. giúp người tiêu dùng an tâm khi lựa chọn RAT không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. mô hình sạp RAT sẽ được triển khai thí điểm tại 3 chợ đầu mối. Qua những đợt kiểm tra đột xuất. Chi cục Bảo vệ thực vật Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ nông nghiệp (thuộc Sở NN-PTNT TPHCM) sẽ triển khai thí điểm mô hình kinh doanh sạp rau an toàn (RAT) tại 3 chợ đầu mối Bình Điền. Mục tiêu của mô hình này là từng bước hướng đến một thị trường cung cấp RAT cho toàn TP. nếu phát hiện các sạp RAT không đạt các điều kiện bắt buộc. Đây được xem như một hướng đi mới cho việc tiêu thụ RAT của TPHCM. Đây được xem như một hướng đi mới cho việc tiêu thụ RAT của TPHCM. sẽ được dán logo RAT và Trong tháng 11-2008. giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP sẽ bị thu hồi. Hóc Môn và Thủ Đức.Sắp tới rau an toàn đóng gói trước khi đưa ra bày bán tại các chợ đầu mối. cũng như được cơ quan chức năng và ban quản lý chợ dán logo RAT lên sạp và trên các sản phẩm. dự kiến trong tháng 11-2008. đồng thời giúp người tiêu dùng an tâm hơn khi lựa chọn sản phẩm RAT không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

đại diện vùng sản xuất rau an toàn tại xã An Thọ.8 ha được công bố sản phẩm đạt tiêu chuẩn quy trình rau an toàn và được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp giấy chứng nhận. Khi rau an toàn đâu là sản phẩm sạch thực sự ? chưa đến người tiêu dùng. Chị Phạm Thu Huyền.. trong đó có 200 ha áp dụng quy trình sản xuất an toàn.. những mô hình sản xuất rau an toàn đã được phổ biến và nhân rộng ở nhiều địa phương trong tỉnh. đơn vị quân đội… Cùng với vùng sản xuất rau An Thọ. NTV) Trong thời gian qua.. một người thường xuyên có nhu cầu mua rau sạch đã cho biết: “Người tiêu dùng ai cũng muốn mua được sản phẩm rau sạch để bảo đảm sức khỏe gia đình nhưng ở thành phố không có cửa hàng hay siêu thị nào bán rau sạch đã được kiểm định. 56. Khi ra chợ hay .Sau khi tham quan vùng sản xuất. trường học.. toàn thành phố quy vùng sản xuất tập trung trên diện tích 600 ha sản xuất rau màu. cán bộ Trung tâm khuyến nông giới thiệu các quy trình sản xuất và mong muốn rau an toàn đến được với nhiều người dân thành phố. đầu ra cho sản phẩm rau an toàn vẫn là bài toán khó chưa tìm được lời giải. Tuy nhiên. đặc biệt là các bếp ăn tập thể. mang lại lợi ích cho người tiêu dùng về nguồn rau sạch và hiệu quả kinh tế đối với người trồng rau.

Đồng thời tạo sự hài hòa được lợi ích giữa doanh nghiệp và nông dân. . Hiện nay.. đó cũng là điều dễ hiểu. “Sản phẩm rau sạch có bảo đảm là “sạch”? hay không được đặt ra cho nhà quản lý cũng như người sản xuất. Và câu hỏi tại sao rau sạch chưa đến tay người tiêu dùng ? . Vì trên thực tế không ai có thể quản lý được việc dùng thuốc trừ sâu của nông dân. Vấn đề khó khăn nữa trong việc sản phẩm rau sạch chưa đến được với người tiêu dùng là do kinh doanh R. đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng vẫn cần tìm lời giải phù hợp! Bá Trung Kỹ thuật canh tác cây ớt 1-Giống ớt cay F1 số 20 của công ty cổ phần Giống cây trồng miền Nam.người sản xuất phá sản và gần 1 sào cà rốt của gia đình anh sẽ có tổng thu nhập hơn 5 triệu đồng thì mới có lợi nhuận. đòi hỏi nhà quản lý. muốn rau sạch bảo đảm “sạch”. Tuy nhiên. diện tích được mở rộng nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nông dân. các doanh nghiệp và nông dân phải bắt tay với nhau. Rau mua vẫn theo giá rau sạch nhưng chất lượng thì tôi không biết được có hoàn toàn sạch không?” Sự lo ngại của chị Huyền cũng chính là nỗi lo của không ít người tiêu dùng khác trên địa bàn tỉnh.T trên địa bàn tỉnh nhưng chỉ có 91.. Mặt khác. Sự thất bại của mô hình rau sạch thực sự là điều xót xa đối với những người tâm huyết với dự án sản xuất rau sạch ở Bắc Ninh. 2-Công ty Trang .4 ha diện tích trồng rau an toàn và 3 cơ sở được cấp giấy chứng nhận sản xuất rau sạch.T là lĩnh vực khó. Thực tế. không dùng thuốc ngoài danh mục sẽ khó thực hiện. Người tiêu dùng dù biết đến những lợi ích của rau sạch cũng không biết mua ở đâu.A.các cửa hàng người bán nào cũng nói rau được bán là rau sạch nhưng lại không có dấu được kiển định.A. trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. rủi ro. trồng rau mang lại giá trị cao nhưng cũng dễ biến động. việc nói quản lý được người nông dân không dùng thuốc trừ sâu độc hại.Vậy. sau hơn 4 năm triển khai dự án về trồng R. anh Hoàn tâm sự “chưa bao giờ các tư thương chấp nhận mua sản phẩm rau của gia đình anh theo giá của rau sạch mà vẫn bị đánh đồng như nông sản của các hộ trồng rau khác ở địa phương”. làm gì để rau sạch có chỗ đứng trên thị trường. chưa có cửa hàng hay siêu thị nào bán rau sạch.

. Giống (chỉ địa) TN48 (F1). TN65 (F1) (chỉ địa).nông gồm có các giống: Ớt chỉ thiên sư tử Thái lan. Ớt (chỉ địa) Chi li Trang nông (F1) Hàn quốc. TN49 (F1) (chỉ địa). ớt chỉ thiên (F1) TN16 Hàn quốc.

2004 ::: minhquan] Ớt (Capsicum annum) là loại rau rất có giá ở Indonesia. Sản lượng hạ thấp vào mùa mưa. Khả năng thích ứng kỹ thuật Kỹ thuật này sẽ thích ứng với mọi diện tích ruộng. Cho đến nay. Độ pH 5. phải có rãnh thoát nước tốt. từ nhỏ đến lớn.8. sạch.Apr . Nhằm kéo dài mùa vụ thu hoạch và bình ổn giá cả. với tỷ lệ 1:1.5-6. . Những quả giống chín già phải có màu đỏ. Những yêu cầu chăm bón Đất phải xốp. bằng cách sử dụng plastic đen để phủ đất. Nói chung.com]> Kỹ thuật Hạt giống Hạt giống phải chín già. Cây giống ươm trong các túi nhựa. nông dân có được nguồn thu nhập thêm trong mùa khô. Cây giống Đất để ươm cây giống là đất trộn phân.Kỹ thuật trồng ớt trái mùa [20 . không có quá nhiều hàm lượng sét. dễ thoát nước và giàu chất hữu cơ. việc trồng ớt ở Indonesia vẫn theo mùa. hay trên các luống đất được làm kỹ. Lợi thế kỹ thuật Sản lượng ớt và giá cả sẽ ổn định suốt năm. một hệ thống trồng ớt trái mùa đã được triển khai. thay vì dao động giữa thừa và thiếu. ở Indonesia thường trồng ớt vào đầu mùa khô. Lượng nước vừa đủ. [http://agriviet. đều nhau và không bị sâu bệnh. cho nên sản lượng và giá cả bị dao động rõ rệt trong năm.

rác rưởi. và sau đó được cày bừa kỹ. phối hợp với phân trộn compost và chế phẩm phân bón cơ bản. SP36 (250-300kg/ha). và KCl (Kaliclorua) (250kg/ha). Trồng trọt Mỗi luống trồng thành 2 hàng. hoặc khi cần thiết. Plastic nên được căng đều trên mặt luống với mặt ánh bạc hướng lên trên. Luống thường rộng 120cm. Phủ plastic đen: Khoảng 12 cuộn/ha. mặt tối bên dưới sẽ làm cho cỏ không mọc được). Plastic có màu ánh bạc ở mặt trên và màu đen ở mặt dưới (Mặt ánh bạc sẽ phản chiếu ánh nắng mặt trời và xua đuổi côn trùng. rãnh giữa luống rộng 40cm và sâu 20cm quanh luống. tránh ánh sáng trực sạ. Khi cây giống được 25-30 ngày tuổi có thể đem ra trồng được. được uống cong một nửa và được cắm xuống đất để giữ cho các cạnh cách nhau 50cm. Các mặt xung quanh để ngỏ để tạo sự thông thoáng cho luống trồng. Độ nóng sẽ làm co giãn chất nhựa cho nên nó dễ bị dão. Cây giống cần được tưới nước hằng ngày. Bảo vệ Cây giống bị chết hay sâu bệnh thì cần được thay thế. Nếu độ pH đất thấp. Phòng trừ sâu bệnh: Trừ ruồi hại quả bằng bẫy bả eugenol methyl. Nước tưới được bơm vào cho từng gốc cây. Làm đất Đất cần được dọn sạch và cày bừa. thì bón khoảng 2tấn/ha dolomite. Các loài gây hại và dịch bệnh đều có thể kiểm soát bằng việc phun các loại thuốc bảo vệ thực vật thích hợp Thu hoạch và sau thu hoạch . Cần phải làm luống cao trước khi trồng cây giống. Cây giống là cây ưa sáng. Khung đỡ rộng từ 1-2m và cao 40-50cm. Chúng dài khoảng 40cm. Plastic được rải vào buổi trưa khi ánh nắng mặt trời bắt đầu gay gắt. Trồng ớt vào buổi sáng sớm hay lúc hoàng hôn.Đất luống phải được don sạch cỏ. Nếu đất rất chua. nhưng phải được che bằng giàn có khung đỡ. Phân bón cơ bản cần dùng là urê trộn lẫn với phân (300kg/ha). thì bón thêm dolomite hay vôi. Được phủ bằng rơm rạ hay vật liệu tương tự. Các cây cách nhau 50cm và các hàng cách nhau 70cm. Trên mặt plastic trổ các lỗ chữ thập tại những vị trí trồng cây để cho cây có thể tăng trưởng. Mép plastic được kéo thấp xuống các bờ luống và được buộc chặt vào vị trí bằng các lạt tre.

Việc bao gói cho vận chuyển cần phải tạo những lỗ thoáng khí.com] ThS. Trường ĐHCT . Trần Thị Ba Bộ môn Khoa Học Cây Trồng Khoa Nông Nghiệp & Sinh học ứng dụng. lứa ớt đầu tiên có thể thu hoạch. Có thể dùng loại túi lưới. Dolichos sesquipedalis L. Nơi bảo quản phải khô ráo và thoáng mát. chúng sẽ biến thành màu đỏ tươi. Đến thời gian này. Rau màu Kỹ thuật trồg đậu đũa [30 - ĐẬU ĐŨA Tên khoa học: Vigna sesquipedalis Fruwirth Vigna sinensis spp. Họ Đậu: Leguminosae.Sau 60-70 ngày. Fabaceae [http://agriviet.

có góc cạnh. trái non thẳng. Tràng hoa có 5 cánh rời. ĐẶC TÍNH SINH HỌC Cây thân thảo hằng năm.21 noản. Philippines. mềm. nhụy đực gồm 9 dính + 1 rời.120 cm. Đậu đũa là loại rau phổ biến ở thị trường Châu Á. kết trái kéo dài 1. cây ra hoa. ra hoa 35 ngày sau khi gieo và bắt đầu cho thu hoạch trái tươi 2 tuần sau khi hoa nở. chất bột đường và vitamin A.5 . leo quấn. mặt lá ít lông tơ. Tùy theo sự tăng trưởng và cường độ thu hái. trái già co thắt lại.2000 mm. màu xanh nhạt hầu hết được chấp nhận ở Thái Lan và Hồng Kông trong khi Brunei thì thích trái ngắn. giàu protein. nơi có vủ lượng 1500 .1. Nam Châu Á như Bangladesh.2 tháng và cây tàn 3 . Nhu cầu nước cả vụ là 6 .30 hạt. màu sắc và kích thước thay đổi. láng. Đậu đũa thích khí hậu nóng.5 . tỉ lệ thụ phấn chéo bởi côn trùng rất thấp trong điều kiện khí hậu khô. pH từ 5. Phát hoa mọc ở nách lá. hệ thống rễ phát triển tốt. Đậu đũa chịu hạn giỏi đồng thời tăng trưởng tốt trong mùa mưa ẩm độ cao. Ấn Độ. . thích hợp trên đất nhiều hữu cơ. 2. Trái tươi có giá trị dinh dưỡng tương đối cao. Hạt hình quả thận. Tuy nhiên. Trồng trong mùa nắng có tưới đậu mọc tốt như trong mùa mưa. Lá kép 3 lá phụ với cuống dài. Pakistan.8 mm/ngày. Đậu đũa phản ứng với độ dài ngày không rỏ rệt nhưng thiên về cây ngày ngắn. ở cao độ cao > 700 m sự ra hoa của đậu bị hạn chế nhất là vào mùa có thời tiết lạnh. Dạng trái cực dài. màu xanh nhạt. nhưng trong điều kiện ẩm ướt tỉ lệ nầy có thể tăng đến 40%.6. Thân bò.4 tháng sau khi trồng. Hoa lưỡng tính. bầu noản với 12 . Indonesia và mở rộng sang Châu Phi. GIỚI THIỆU Đậu đũa bắt nguồn từ một trong ba loài phụ của đậu cowpea (Vigna unquiculata) được trồng nhiều ở Trung Quốc. Sau khi nẩy mầm cây tăng trưởng nhanh. hoa màu vàng hay xanh lơ mọc thành chùm ở đỉnh. Phẩm chất trái dựa trên màu sắc và chiều dài trái. lá mọc xen kẻ. yêu cầu nhập khẩu đậu đũa rất thay đổi tùy mỗi thị trường. Đậu mọc tốt ở vùng đồng bằng và nơi có cao độ trung bình. nhu cầu của thị trường nước ngoài trong những năm gần đây là tiêu thụ trái tươi và đông lạnh. mắt thân thường có màu tím.35oC và nhiệt độ ban đêm không dưới 15oC. trái chứa 10 . Trái dài 30 . không lông. Đậu xuất khẩu sang Châu Âu và Canada thì thích trái dài trung bình. Đậu trồng được trên mọi loại đất . vùng Đông Nam Châu Á như Thái Lan. nhiệt độ ban ngày thích hợp là 25 . màu xanh đậm vì có nhiều trái/kg.

12 dl. ăn giòn.1. hạt đen và hạt trắng đen. Thời vụ Đậu đũa trồng quanh năm nhờ có nhiều giống. Mùa nắng nên gieo dầy để thu được năng suất cao.75 ngày. Giống hạt trắng cho trái thịt dầy.1. GIỐNG Có 2 nhóm giống là đậu lùn và đậu leo. ăn ngon. Bón phân: . thích hợp canh tác trong mùa mưa. cày xới kỷ và phơi ải 7 . thịt trái chắc.3 dl.10 ngày. hạt trắng đỏ.3. Đối với đậu lùn gieo hạt khoảng cách 50 x 30 cm. Đậu lùn thu ít lứa.20 cm. canh tác phải làm giàn. sai trái. Đậu lùn: cây cao 50 . Khử đất với Basudin và Kitazin hạt trước khi gieo.6 dl và vụ Thu Đông gieo tháng 8 . ăn ngon. màu trái thay đổi từ xanh nhạt (giống hạt trắng) đến xanh rất đậm (giống hạt đen). Mùa mưa ít nắng nên gieo thưa để dễ chăm sóc và thu hái. KỸ THUẬT CANH TÁC 4. hạt đỏ. 3. vụ Hè Thu gieo tháng 5 . trái ngắn 30 . 3. vụ Xuân Hè gieo tháng 2 . mỗi lổ để 2 cây. Năng suất. năng suất thấp hơn đậu leo.70 cm tùy giống. Những nơi đất thấp phải lên luống cao 15 . Các giống còn phân biệt bởi sắc tố đỏ tím ở đuôi trái.40 m. thời gian sinh trưởng ngắn 70 . Giống hạt đỏ và hạt đen cho trái thịt mỏng. Đậu leo: có rất nhiều giống như giống đậu hạt trắng. 4. thu hoạch tập trung.2. bón 1 tấn vôi/ha. Hiện nay các Công Ty Giống có nhiều giống cao sản đã qua tuyển lựa và thích hợp canh tác cho các mùa khác nhau và cho trái đáp ứng yêu cầu thương phẩm.9 dl. Vụ Đông Xuân gieo tháng 11 .35 cm. phẩm chất trái. Thân sinh trưởng vô hạn. năng suất cao và thường trồng trong mùa nắng. làm sạch cỏ.20 kg hạt /ha (đậu leo) và 30 . trái dài 40 . thoát nước tốt. Cách trồng Chọn đất cao.2.3. khả năng thích nghi điều hiện thời tiết của các giống rất cũng khác nhau. 4. Đối với đậu leo gieo hạt khoảng cách 1. 4. Đậu leo cho năng suất từ 18 -25 tấn/ha. mỗi lỗ để 2 cây.70 cm.40 kg hạt (dạng lùn).2 x 0. Lượng giống gieo 18 .

mỗi lần thu khoảng 1 -1. THU HOẠCH Đậu lùn cho thu hoạch 40 . loại phân và liều lượng bón cho 1 ha: Loại phân Tổng số Vôi (tấn) 1 Phân chuồng (tấn) 20 16-16-8 (kg) 1. Công thức phân thường dùng cho đậu đũa là: N: 180 . 50 kg DAP và 50 kg KCl hoặc 400 .1.120 kg /ha Dựa vào công thức trên có thể bón cho 1 : 1 tấn phân 16-16-8. Khi thu dùng dao cắt hay dùng tay vặn nhẹ trái. .250 kg/ha P2 O5: 150 . tưới dậm phân đạm và kali 10 ngày/lần để kéo dài thời gian thu trái và trái đậu được tốt. 150 . khoảng 150 . Đậu đũa cho năng suất cao hơn đậu cove nên thường bón lượng phân cao hơn. Các khâu chăm sóc khác thực hiện như canh tác đậu cove. không giật mạnh làm rụng nụ hoa các lứa sau.40 ngày với 12 -15 lứa.50 ngày sau khi gieo.45 ngày và đậu leo cho thu hoạch 45 .200 kg/ha K2O : 80 . Sau đây là một ví dụ về thời điểm.000 Urê (kg) 100 DAP (kg) 50 KCl (kg) 50 Bón lót Tưới thúc Bón thúc 2Bón nuôi trái lần 1 20 300 400 300 100 50 50 Bón thúc lần 1: làm cỏ và đánh rảnh một bên hàng đậu.200 kg KCl.5 thu rộ.450 kg Urê.Lượng phân bón tùy theo điều kiện dinh dưỡng có sẳn trong đất và nhu cầu của cây qua từng giai đoạn sinh trưởng. Đậu cho thu hoạch kéo dài 30 . Bón thúc lần 2: làm cỏ và đánh rảnh bên phía đối diện. 5. Trong thời gian thu hoạch trái tươi.000 kg super lân. Lứa thứ 4 .25 tấn phân chuồng và 1-2 tấn tro trấu. 20 . bón phân NPK và vun mép còn lại. bón phân NPK rồi vun mép lấp phân và giữ ấm gốc.200 kg/ha. 800 . cách ngày thu 1 lần. Năng suất lứa đầu rất thấp.5 tấn/ha. 100 .150 kg Urê.

cây cảnh…) hay chuyển từ sản xuất rau truyền thống sang sản xuất rau an toàn. an toàn cho người tiêu dùng và môi trường.000ha trồng rau. Đảm bảo thành phần dinh dưỡng chủ yếu trong từng loại rau. … Sản xuất rau phải trở thành một nghề ở những vùng chuyên canh rau. gọi tắt là rau an toàn.BNN . hàm lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức mức tiêu chuẩn cho phép. Phát triển nghề trồng rau không những giải quyết tốt việc làm cho lực lượng lao động nông thôn. Nhiệm vụ người sản xuất rau là không ngừng trau dồi nâng cao sự hiểu biết và nắm vững quy luật sinh trưởng. Ngày nay. [http://agriviet. kim loại nặng. năng suất đạt 150 tạ/ha và sản lượng trên 9. sản lượng đạt gần 6 triệu tấn/năm với nhiều loại rau.1998/QĐ . Đi cùng với quá trình thay đổi hình thái canh tác là sự thay đổi về tổ chức sản xuất như sự ra đời của các nhóm. dư lượng nitrat. áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để không ngừng nâng cao năng suất. vi sinh vật có hại. môi sinh. tăng thu nhập. Đặc biệt phải thực hiện quy trình sản xuất rau sạch một cách triệt để. cải thiện chế độ dinh dưỡng cho người lao động. người tiêu dùng đã quan tâm nhiều đến sự an toàn của thực phẩm bởi sự tồn dư một số chất độc hại trong cây rau như: các hóa chất bảo vệ thực vật. Nói đúng hơn. diện tích trồng rau cả nước đến năm 2005 là 644 nghìn ha. thân. quả có chất lượng đúng với đặc tính giống của chúng. rau an toàn hiện nay chiếm chưa tới 10%. cải bắp. về lâu dài.Rau an toàn những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau ăn củ. trên thị trường . hoa. quả có chất lượng đúng với đặc tính giống của chúng. hoa. hành tây. Nhu cầu đối với rau an toàn và khả năng sản xuất rau an toàn là rất lớn. an toàn về chất lượng: Khi sản phẩm rau không chứa các dư lượng dưới đây vượt ngưỡng cho phép: + Thuốc bảo vệ thực vật + Hàm lượng nitrat + Kim loại nặng + Vi sinh vật gây hại Trong đó mức độ an toàn về chất lượng thực phẩm là quan trọng nhất. su hào. hợp tác xã chuyên ngành kiểu mới. chuyên môn hóa các loại cây đặc sản (cây ăn quả. dưa chuột. So với tổng diện tích và sản lượng rau hàng năm nói chung. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT. lá. chất lượng rau. Rau an toàn phải đáp ứng được các yêu cầu sau: . góp phần cải thiện môi trường.5 triệu tấn. … Theo Quyết định số 67 . Theo số liệu của Tổng cục thống kê. phát triển của cây rau. thân.Sạch. chuyển dịch cơ cấu cây trồng mà còn nâng cao thu nhập cho người sản xuất rau ở các vùng sản xuất thâm canh. việc sản xuất nông nghiệp của nông dân ở các vùng này ngày càng khó khăn. TIÊU THỤ RAU AN TOÀN Ở VIỆT NAM Trong những năm qua. công ty trách nhiệm hữu hạn chuyên sản xuất và phân phối rau an toàn… Tuy nhiên. đậu ngọt. Đồng bằng Sông cửu Long và Đông Nam Bộ. Đứng trước thách thức này đòi hỏi họ phải vận động để thay đổi hoạt động sản xuất như chuyển dần một phần lao động trong nông hộ sang tham gia hoạt động phi nông nghiệp.KHCN ngày 28/4/1998 về sản xuất rau an toàn của Bộ Nông nghiệp và PTNT thì “rau an toàn“ được khái niệm như sau: những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau ăn củ. quá trình đô thị hóa đã làm diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp với tốc độ rất nhanh. súp lơ.com] Việt Nam hiện có gần 400. hàm lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức mức tiêu chuẩn cho phép. lá. đậu nhiệt đới và á nhiệt đới như: cà chua. Đã hình thành nên các vùng chuyên canh rau lớn ở Đồng bằng sông Hồng. đối với mỗi địa phương cũng có những đặc thù riêng về phát triển nghề trồng rau an toàn. Do đó. an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

quả xuất khẩu. Các biện pháp dù đơn lẻ hay đồng bộ cũng đều nằm trong khuyến cáo của quy trình sản xuất rau an toàn trong nhà lưới với 2 dạng: . nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển sản . tiêu thụ. 1. chọn lựa. hoa. do chưa tính đến yếu tố Việt Nam sẽ gia nhập WTO. đóng gói bao bì. Bắt đầu tháo gỡ từ vùng nguyên liệu. thiếu. theo mùa vụ nên vào thời kỳ cao điểm của các mùa vụ ( mùa đông với rau. Cách tưới này không chỉ hiệu quả đối với vùng thiếu nước mà ở đâu nếu áp dụng cũng góp phần hạn chế sâu bệnh hại do giảm ẩm độ xung quanh cây trồng. ổn định cho xuất khẩu.2010" thì đến năm 2006 chúng ta mới xuất khẩu được hơn 260 triệu USD. với mỗi hộ từ 200 . hoa. Không có thương hiệu riêng cũng khiến rau quả Việt Nam không tạo được chỗ đứng trên thị trường. Đa phần các doanh nghiệp xuất khẩu rau. nhận thức về vị trí. lưu kho bảo quản lạnh. phân loại. đáp ứng yêu cầu thị trường cho xuất khẩu. do thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau quả ở Việt Nam vẫn ở quy mô nhỏ lẻ. hoa.000 m2 cho hoa hoặc quả. nhưng trái vụ thì hầu như không có. vấn đề lớn nhất hiện nay là cả nước hiện thiếu một chương trình đồng bộ có mục tiêu về phát triển sản xuất và xuất khẩu rau. Sản xuất chủ yếu vẫn theo quy mô hộ gia đình. Hạ tầng cơ sở cho sản xuất rau. cung cấp một phần rau sạch cho thị trường Hà Nội Đạm Phú Mỹ hướng đến thị trường mới Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Mặc dù đã có những mô hình sản xuất rau. dựa chủ yếu vào khai thác lợi thế tự nhiên. chưa thành sản xuất hàng hóa. hoa. quả. Vì vậy. quả. hoa.. không tiêu thụ nhanh thì thua lỗ nặng. xuất khẩu bài bản. quả vừa yếu. lập trang trại để tạo ra được các vùng sản xuất lớn. quả cho thu hoạch trên 6. tỉnh Sơn La đã đem lại hiệu quả kinh tế rất cao. dưỡng sinh. 9.chỉ được phép cung ứng và tiêu thụ rau an toàn. Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Nguyễn Trí Ngọc thừa nhận: "Trước đây. cả nước hiện có trên 1. chính qui theo các qui trình tiên tiến từ canh tác đến thu hái.Sản xuất rau trong nhà lưới không sử dụng các hoá chất. tất cả diện tích trồng rau cần phải chuyển sang sản xuất rau an toàn. nhất là khu nông nghiệp công nghệ cao để tạo đột phá cho sản xuất rau. không tạo được sản lượng đủ lớn.300 m2 cho rau.Sản xuất trong nhà lưới có sử dụng hạn chế các hoá chất bảo vệ thực vật và phân khoáng. hoa. hoa. quả không gắn được thương hiệu của doanh nghiệp vào sản phẩm. nên có nhiều chỉ tiêu không sát". Công tác quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức và tổ chức thực hiện còn nhiều bất cập nên nhiều quy hoạch diện tích trồng rau. tưới thấm dẫn nước bằng ống nhựa. mùa hè với quả) thì lượng hàng hoá tập trung quá cao. lại không đồng bộ. hoặc quy hoạch đất cho cây lương thực và cây công nghiệp mà chưa có quy hoạch cụ thể cho phát triển sản xuất rau. chuyên canh cho rau. hoa. đạt 30% kế hoạch. thường phải sử dụng chung với sản xuất cây lương thực và cây công nghiệp nên rất khó đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.4 triệu ha rau. Lại thêm việc tổ chức hoạt động xuất khẩu của hầu hết các doanh nghiệp trong lĩnh vực rau. Tuy nhiên. Quy mô nhỏ lẻ. khi xây dựng chương trình xuất khẩu rau quả. tập trung. Trong khi đó..6 triệu tấn rau với tiềm năng rất lớn về xuất khẩu. chỉ sử dụng nông dược hữu cơ. . Trong sản xuất rau an toàn áp dụng biện pháp tưới nhỏ giọt. quả ở nhiều cấp chính quyền và doanh nghiệp còn hạn chế. Quy mô sản xuất quá nhỏ bé khiến cho sản lượng hàng hóa không nhiều (quy mô sản xuất của Thái Lan là 5-10 ha/hộ. chất lượng cao.5 tấn triệu trái cây. sản xuất hàng hoá. vai trò và lợi ích của việc phát triển sản xuất và xuất khẩu rau. quả của Việt Nam. Sử dụng nhà lưới dùng vỉ để ươm cây con trong canh tác rau là xu thế phát triển mạnh. tạo sản lượng lớn ổn định. chỉ tập trung nhiều vào quy hoạch đất cho phát triển công nghiệp và đô thị. Cho tới nay. một số nhà máy chế biến được xây dựng xong nhưng thiếu nguyên liệu hoặc có nguyên liệu nhưng không đảm bảo các yêu cầu và chất lượng cho chế biến xuất khẩu. thủ công trong thu hoạch. quả đã trở thành quy hoạch treo. So với mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD vào năm 2010 của "Chương trình phát triển rau quả và hoa cây cảnh thời kỳ 1999. vận chuyển. còn của Australia là 40-50 ha/hộ). giao hàng đến tay người mua nước ngoài đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm như Công ty liên doanh của Hà Lan-Indonesia HATSFARM ở Đà Lạt hiện nay. sản xuất của người nông dân vẫn chủ yếu theo kinh nghiệm và phương pháp truyền thống. hoa quả cho thu nhập 400-500 triệu đồng/ha nhưng cho tới nay. hoa. chế biến. Một số mô hình sản xuất rau an toàn trong nhà có mái che tại Mộc Châu. Hầu hết các địa phương đều chưa có quy hoạch cụ thể tạo thuận lợi cho việc tích tụ đất. quả còn thiếu tính chuyên nghiệp. Theo nhận định của nhiều chuyên gia. dù đã có mặt ở thị trường 50 nước nhưng kim ngạch xuất khẩu rau quả của chúng ta không được như mong đợi mà là sự trồi sụt thất thường theo diễn biến thị trường. Chưa có đơn vị nào tổ chức kinh doanh sản xuất.

phổ biến kinh nghiệm của những người trồng rau giỏi. quả Việt Nam. giá nhựa.. quả đã được thực tế chứng minh là vượt trội. Tuy vậy. xã hội mỗi vùng. Nguồn nước tưới lấy từ giếng hoặc tưới nước sạch được cung cấp đầy đủ từ lúc cây con đến mỗi giai đoạn sinh trưởng. bảo đảm chất dinh dưỡng. cây giống trong nhà kính có khả năng đem lại năng suất rất cao.xuất rau. Lý do đơn giản là điều kiện khí hậu của Việt Nam không được thuận lợi vì có độ ẩm cao. Hiện nay. năng suất của dưa chuột vẫn chưa phải là cao so với thế giới bởi vì tại Philippines. mía. Hệ thống tưới nhỏ giọt được bố trí tự động hoặc bán tự động dưới dạng dung dịch theo thời gian và lưu lượng để cây có thể hút trực tiếp một cách đồng đều và tiết kiệm đặc biệt với vùng hạn hán. những hỗ trợ của Nhà nước cho rau. Ví dụ: Dưa chuột có thể đạt năng suất khoảng 250 tấn/ha so với mức bình thường trồng ở ngoài là 70 . hoa.Phát triển nghề trồng rau an toàn tức là việc tổ chức xây dựng ngành sản xuất RAT thành một ngành sản xuất riêng. Đặc biệt phải chú ý đến các vùng trọng điểm. cà phê. bảo quản và chế biến rau. có thương hiệu trên thị trường. Phát triển nghề trồng rau an toàn nhằm phát huy những thuận lợi về tự nhiên.TS. … Phân bón được sử dụng trên 10 nguyên tố đa vi lượng cần thiết cho sự sinh trưởng của cây rau đã được phân tích. SOLATE . hoa. Ths.. quả chưa thỏa đáng so với cây lúa. chè. quả còn rất thấp mặc dù thu nhập của rau. Công nghệ này hoàn toàn mới mẻ bởi khâu gieo hạt và trồng rau hoàn toàn không dùng đất mà trên các giá thể sẵn có như hộp xốp.80 tấn/ha. giao thông thuận tiện. có vị trí nhất định trong nền sản xuất nông nghiệp.PGS.. Nhờ vậy. những vùng có diện tích lớn và tập trung khối lượng sản phẩm lớn. Sản xuất rau an toàn phải thực sự trở thành một nghề ở những vùng chuyên canh rau. đáp ứng với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoài nước. Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội. đa dạng. ở Australia còn lên tới 500 . các cây giống ươm trong nhà kính. chủng loại rau phong phú. tăng chất lượng của rau. bức xạ nhiệt. đặc biệt là các sản phẩm thu được rất sạch. có giá trị hàng hoá cao.600 tấn/ha. Hệ thống công nghệ cao cũng giúp tự động hóa điều chỉnh trong nhiều khâu khác như ánh sáng.400 tấn/ha. dưa chuột sản xuất trong nhà kính có thể đạt 300 . Đỗ Đức Hưng . Sản phẩm rau an toàn có thị trường tiêu thụ ổn định. Công nghệ này đã đảm bảo được độ an toàn rất cao cả về mặt chất lượng cũng như hình thức và được nhiều người ưa chuộng. Hồ Hữu An. kinh tế. nguồn nước. phát triển của từng cây rau. hoa. Đây là công nghệ sản xuất rau an toàn của Mỹ đã được nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và phát triển ở nước ta . ở Việt Nam đã có công nghệ sản xuất rau an toàn bằng công nghệ cao không dùng đất. Hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu rau quả đang được coi là vấn đề cốt lõi để có tăng thu nhập. kiểm chứng trên cơ sở khoa học.

Do đó chúng yêu cầu đất luôn được giữ ẩm. dễ thoát nước.Đậu cô ve lùn. cao 30-40cm. Đậu côve có bộ rễ ăn nông. Quả màu xanh. có lóng. Thời kì ra hoa cần ẩm nhiều. Vụ chính gieo từ tháng chín đến hết tháng11.Đậu cô ve ưa các loại đất nhẹ. Vụ muộn: geo từ tháng 12 đến hết tháng 1 năm sau. Yêu cầu sinh thái Nhiệt độ thích hợp để sinh trưởng là 12-20oC. Đậu côve thuộc loại a ngắn ngày. lại ít rễ phụ. Cây có dạng bụi. Tính chống chịu khá hơn đậu vàng. có độ phì vao. .Cách trồng đậu cô ve Đặc điểm sinh học . Cây có khả năng tạo nhánh ở mức trung bình. còn gọi là đậu xanh. Kỹ thuật gieo trồng và thời vụ Thời vụ: Có 3 vụ gieo trồng: Vụ sớm: gieo từ tháng 8 đến tháng 9. có thể vươn dài như một dây leo. hạt nâu. Vợt quá 80% cây dễ bị bệnh. chỉ trồng ở vụ đông xuân mới có năng suất cao. cây lùn không leo. Quả ăn không ngon bằng đậu vàng. Vì vây. Thời gian chiếu sáng 8-10giờ/ ngày là thích hợp. Độ ẩm không khí thấp có thể gây ra hiện tượng rụng hoa. Đất cần tơi xốp. Ăn quả xanh có thể để giả ăn hạt. Thân mảnh. Kỹ thuật trồng .Đậu cô ve lùn đều thuộc nhóm đậu lùn. Trong trường hợp vươn dài. năng suất bị giảm rõ rệt. . Tuy nhiên. đậu vàng không chịu đợc giá lạnh dưới 10oC. Độ ẩm đất 65% là thích hợp. rụng quả và nhiều hiện tượng khác thường làm mất giá trị thương phẩm.

Làm đất và bón lót. Kỹ thuật chăm sóc Sau khi gieo hạt không nên tưới nguyên nhân nước đậm làm hạt hút no nước quá mạnh. Cây trên hàng cách nhau 10-15cm. Cây đậu có lá vàng.. Sau mỗi trận mưa. nhất thiết phải xới xáo lại. Khi đậu cao 20 cm thì xới mặt luống. sau đó mới gieo hạt. Tra xong lấy tay xoa đất lấp kín hạt. Trường hợp sờ đất thấy mát tay thì không cần tới nước lên luống. Luống có bề mặt rộng 0. xới đất và vun nhẹ vào gốc. mặt luống bị đóng váng. mỗi hốc tra 2-3 hạt. Hàng được rạch cách nhau 30-40 cm. Lần thứ hai khi cây 7-8 lá thật. nhưng cần đợi khô đất mới được tiến hành xới. thu nhặt cỏ và vun cao gốc. Hạt được đặt vào các hốc. Mỗi hec ta gieo 80kg hạt giống. gieo hạt: đất được làm kĩ đập nhỏ để đậu nhanh bén rễ. chỉ bón nhẹ. Lần thứ nhất khi cây có 4-5 lá thật. Vụ sớm cần chú ý lên luống cao và dốc để thoát nước. Tốt nhất là trước khi gieo nên tưới nước láng qua trên mặt luống nếu đất bị khô để đảm bảo độ ẩm cho hạt. 8-10 tấn phân chuồng đã ủ thật hoai mục 100-125 kg phân lân 25-35 kg phân kali 25 kg phân đạm urê Các loại phân lân và kali được trộn ủ với phân chuồng trước khi bón. Phân lót được bón theo rạch. Dùng cuốc rạch thành từng hàng trên luống. trương lên làm rách vỏ áo. Đặc biệt là bệnh chết vàng. Bón lót cho 1 ha đậu vàng trồng thuần cần. Bón thúc cho đậu vàng đợc tiến hành 3 lần. hạt dễ bị trẫm. tạo điều kiện cho nấm và vi khuẩn xâm nhập vào gây bệnh. Nếu xới khi đất còn ướt có thể làm thương tổn rễ và gốc cây. úa rồi chết. sâu 10-12cm lấp đất phủ kín phân rồi tra hạt lên trên.9-1m. Riêng phân đạm lúc trồng đậu mới trộn lẫn với phân chuồng hoai để bón hoặc rắc lên bề mặt rạch rồi đảo sau. . Khi đậu có 2-3 lá thật thì nạo cỏ.

Chọn lấy những quả lứa đầu làm giống. hái sớm những quả lứa sau để tập trung chất dinh dưỡng nuôi quả để giống. Hai lần sau bón thúc phân đậm hơn. quả bị sâu bệnh. cần chọn những ruộng tốt. hái về để nguyên cả vỏ phơi thật khô. Trước khi phơi chọn kĩ để loại quả xấu. quả dị hình.Lần thứ ba khi nụ sắp nở. Có thể thay thế phân đạm bằng 7-8 tấn phân ngâm để bón thúc. Khi quả để giống đã già. Phân dùng để bón thúc là phân đạm. Sau đó phơi khô: Rải hạt lên nong nia phơi thêm 1-2 nắng nhẹ cho hạt thật khô rồi đem bảo quản nơi thoáng mát để trồng ở vụ sau. Biện pháp chọn giống và giữ giống: Muốn chọn giống đậu côve. . không bị sâu bệnh hại ở những vụ chính. Dùng 60kg urê bón cho 1 ha cho cả ba lần.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful