tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam năm 2010

I – Khái quát chung về cây cà phê và ngành sản xuất cà phê ở Việt Nam 1. Đặc điểm của cây cà phê Cà phê là loại cây công nghiệp nhiệt đới có nguồn gốc từ châu Phi với những yêu cầu về sinh thái rất khắt khe. Khí hậu và đất đai là 2 nhân tố sinh thái chính quyết định năng suất hiệu quả kinh tế của loài cây này. Hiện nay trên thế giới, có rất nhiều giống cây cà phê, song có 4 loại được trồng phổ biến đó là:  Cà phê chè (ARABICA): Đây là loại cà phê quan trọng nhất, được biết đến từ lâu đời và được phát triển rộng rãi nhất trên thế giới. Đây là loại cà phê có chất lượng cao, thơm ngon và được thế giới ưa dung  Cà phê vối (ROBUSTA): Loại cà phê này chỉ mới được phát hiện và đầu thế kỷ XX ở châu Phi. Song cho tới nay đã chiếm 1/3 sản lượng tiêu thụ cà phê của thế giới.  Cà phê mít: Cà phê mít có phẩm chất lượng thấp nên hầu như không được chế biến làm hàng xuất khẩu, mà chỉ dùng tiêu thụ nội địa.  Cà phê mít dâu da: Đây là loại cà phê có nguồn gốc từ Liberia,nhưng do năng suất thấp, chất lượng kém nên hiện nay không được trồng phổ biến. Cà phê chồn: Đây là loại cà phê cao cấp, hiện có rất ít trên thị trường. 2. Ngành sản xuất cà phê ở nước ta: Ở nước ta hiện nay có hai loại cà phê được trồng phổ biến, đó là cà phê vối và cà phê chè. Với đặc điểm ưa thời tiết mát, cường độ ánh sáng thấp, cà phê chè được trồng chủ yếu ở miền Bắc. Trái lại, cà phê vối lại được trồng phổ biến ở các tỉnh miền Nam nơi mà thời tiết nóng, ẩm, ánh sáng dồi dào. Cây cà phê đã được thâm nhập ở nước ta từ khá sớm song quy mô còn nhỏ, năng suất và sản lượng thấp. Năm 1975 cả nước chỉ có hơn 18000 ha, trong đó diện tích cho sản phẩm là 12000 ha, với năng suất 4,7 tạ/ha và sản lượng 5600 tấn. Nhưng cho đến 35 năm sau ngày đất nước thống nhất, cây cà phê đã nhanh chóng phát triển. Diện tích, năng suất, sản lượng và xuất khẩu đều tăng nhanh.Hiện nay, nước ta có 530.900 ha cà phê, cho sản lượng khoảng trên dưới 1 triệu tấn/năm. Tây Nguyên với 4 tỉnh Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai và Kon Tum là khu vực chủ lực của ngành cà phê Việt Nam. Diện tích của vùng này lên tới hơn 470000 ha, chiếm trên 90% tổng diện tích trồng cà phê của cả nước. Trong đó diện tích, sản lượng cà phê của Đắc Lắc là lớn nhất, chiếm hơn 40% của cả nước. Đặc biệt, với điều kiện đất đỏ bazan màu mỡ, cộng thêm đó là khí hậu thuận lợi cho cây cà phê phát triển, cho nên ưu thế của cà phê Tây Nguyên là rất lớn, năng suất sản lượng cao và chất lượng tốt. Tuy nhiên, để có được năng suất cao như vậy, ngoài yếu tố "thiên thời ,địa lợi" còn phải kể đến công sức đầu tưtrong khâu giống và chăm sóc của người nông dân. Đặc biệt, nhiều hộ gia đình bằng việc áp dụng quy trình thâm canh cao đã cho năng suất 50-60 tạ cà phê nhân/ha. Ngoài ra, diện tích và sản lượng cà phê ở các vùng khác trong cả nứớc cũng được chú trọng đầu tư phát triển: ở Đông Nam Bộ, diện tích trồng cà phê đạt 36000 ha; Miền Trung Nam Bộ đạt hơn 3000 ha và từ Quảng Trị trở ra Bắc là 11000 ha. Đặc biệt hiện nay ở nước ta, có khoảng 70% diện tích cà phê của cả nước đã được trồng mới từ những năm 1989. Nhờ đó mà diện tích và năng suất đã tăng lên nhanh chóng giúp cho sản lượng cà phê nước ta tăng nhanh trong những năm qua. Nó tạo ra mức sản lượng cà phê cao . IITình hình xuất khẩu cà phê trên thế giới Đặc điểm của thị trường cà phê thế giới năm vừa qua là giá cả tăng mạnh vào cuối năm. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu nguồn cung cà phê do ảnh hưởng của thời tiết. Một số nước xuất khẩu lớn như Colombia và các nước Trung Mỹ khác mưa lớn kéo dài, lũ lụt, sâu bệnh khiến cho việc thu hoạch cà phê phải lùi lại. Nguồn cung cà phê ngày càng bị thắt chặt khi Ấn Độ cũng gặp phải một năm không mấy khả quan về sản lượng, trong khi nhu cầu nội địa cũng ngày càng tăng cao. Mặc dù Brazil vẫn có vụ mùa bội thu song những lo lắng về hạn hán trong vòng mấy năm trở lại đây cũng khiến cho thị trường cung cấp và tiêu thụ không được ổn định. Năm 2010 được coi là năm đầy biến động trong thị trường xuất khẩu cà phê thế giới. Tổ chức cà phê Thế giới ICO đã phải điều chỉnh liên tục mức sản lượng các nước cho đến khi thu hoạch bởi tác động của môi trường và khí hậu đã ảnh hưởng rất lớn đến mùa màng. Mặt khác, nhu cầu cà phê trên thị trường thế giới không ngừng tăng trong năm qua bởi cà phê ngày càng trở thành đồ uống phổ biến ở khắp các thị trường, đặc biệt là từ những nước sản xuất. Brazil có thể sẽ vượt Mỹ trở thành nước tiêu thụ cà phê số 1 thế giới sau 2 năm nữa. Bên cạnh đó, giá đồng đôla Mỹ có xu hướng giảm cũng là nguyên nhân hỗ trợ cho giá cà phê trên các sàn giao dịch ngày càng cao

Chưa dừng lại ở đây. Và cũng chỉ sau hai năm đầu khai thác thị trường này. xuất khẩu cà phê có sụt giảm song vẫn đạt mức 1. thì mặt hàng cà phê lại đi theo hướng ngược lại. giảm xấp xỉ 5% về lượng và 3. sản lượng xuất khẩu cà phê bình quân của nước ta chỉ đạt 123. vì thế đã bị gián đoạn trong một khoảng thời gian tương đối dài. Hiện Việt Nam vẫn tiếp tục là nước sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới. trong năm 1998 kim ngạch xuất khẩu cà phê sang Mỹ đã lên tới 20. Đặc biệt. trở thành một trong năm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành nông nghiệp. Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với thị trường Liên Xô cũ và các nước Đông Âu. kể từ khi Mỹ bỏ cấm vận đối với nước ta. giá trị và giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam 12 tháng năm 2010 Tháng Sản Giá (triệu Giá (USD/tấn) Tháng lượng cà (nghìn tấn) trị USD) phê 1 . thì đến giai đoạn 1996-2000. kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã lên mức 432 triệu USD/năm. năm 2008. Đông Âu. tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của chúng ta vào thị trường này đã đạt 23 triệu USD.III-Tình hình xuất khẩu cà phê ở Việt Nam 1. Hồng Kong.Năm 2010 2. Trong thời gian qua chúng ta cũng đã mở rộng và thâm nhập vào các thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới như: Đức. lâm.1 tỷ USD.02%. kim ngạch xuất khẩu cà phê sang Mỹ đã chiếm 12% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. ngành hàng cà phê luôn đạt được mức tăng trưởng ấn tượng.3 lần so với năm 1990. Ý. *Các giai đoạn phát triển Nếu như giai đoạn 1990-1995. trong khi tình hình xuất khẩu cũng không mấy khả quan. Song do những biến động lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị trong những năm cuối thập kỷ 80. với kim ngạch 198 triệu USD/năm. gấp 23. trước thập kỷ 90 các nước SNG. Dưới đây là số liệu về sản lượng.1 triệu tấn và giá trị thu về là 1. đầu thập kỷ 90 đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến xuất khẩu cà phê Việt Nam làm cho sản lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này bị giảm sút nhanh chóng. thuỷ sản thời gian qua xuất khẩu đều tăng cả về lượng và giá.1 lần so với giai đoạn trước đó. Chỉ sau 10 tháng. Anh. xuất khẩu cà phê của Việt Nam tiếp tục vươn lên khẳng định vị trí là nước xuất khẩu lớn thứ 2 trên thế giới. [IMG]file:///C:/DOCUME %7E1/ADMINI%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image002. chỉ sau Brazil. tăng 2. Tình hình xuất khẩu cà phê và diễn biến giá cà phê Trong khi hầu hết các mặt hàng trong nhóm nông.jpg[/IMG] Nguồn: Vụ Thương MạiBộ Kế Hoạch và Đầu Tư 2. Singapore. Ảnh hưởng của thời tiết đã làm sản lượng cà phê thu hoạch sụt giảm. giai đoạn 2006-2009.67 tỷ USD. xuất khẩu cà phê đã đạt mức kỷ lục với kim ngạch 2. Nhật và đặc biệt từ năm 1994 chúng ta đã bắt đầu khai thác có hiệu quả hai thị trường mới song đầy tiềm năng về tiêu thụ cà phê là Mỹ và Hy Lạp. tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam sang 10 thị trường nhập khẩu cà phê Việt Nam lớn nhất hiện nay( xem bảng sau): Biểu 1: Mười thị trường xuất khẩu cà phê chủ yếu của Việt Nam Năm 2005-2006 [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/ADMINI%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image003.7 tỷ USD.000 tấn/năm. Pháp. Pháp. do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới.Trước năm 2010: Kể từ khi Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cà phê ra thị trường thế giới đến nay. Singapore là nước nhập khẩu cà phê Việt Nam nhiều nhất (năm 1986 nhập 7074 tấn).jpg[/IMG] Hình1: Tình hình xuất khẩu cà phê của nước ta từ năm 1991 đến năm 2009 * Thị trường xuất khẩu truyền thống của cà phê Việt Nam Như chúng ta đã biết. Theo đó. Năm 2009. Thuỵ sĩ là những khách hàng thường xuyên của cà phê Việt Nam. Khối lượng xuất khẩu năm 2010 chỉ đạt 1. Đặc biệt.7% về giá trị so với con số đã đạt được trong năm 2009.1. giá trị và giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam 12 tháng năm 2010: Biểu 2: Bảng thống kê sản lượng.

1 Tháng 94 140 Tháng 89. Mặc dù dự báo nguồn cung sẽ giảm trong khi cầu lại tăng nhưng giá xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong ba tháng đầu năm 2010 lại giảm mạnh.gif[/IMG]Hình 2: Biểu đồ giá trị xuất khẩu cà phê 12 tháng năm 2009 và năm 2010 của Việt Nam.5 Tháng 77.4 1745 Tháng 102.8 123.5 137. đặc . chúng ta hãy cùng nhìn vào biểu đồ cột dưới đây : [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/ADMINI%7E1/LOCALS %7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image005. Trong quý I/2010.06 1755 Tháng 57.394 110 Tháng 123 165 1370 Tháng 117 160 1263 Tháng 95 133 1290.141 198. cà phê là mặt hàng duy nhất trong các nhóm hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu có đơn giá xuất khẩu bình quân giảm so với cùng kỳ năm 2009.438 93.308 97.37 1810 Tháng 60 100 1945 Tháng 164 292 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Nguồn: Vụ Thương MạiBộ Kế Hoạch và Đầu Tư Để dễ dàng theo dõi diễn biến tình hình xuất khẩu cà phê của nước ta trong 12 tháng qua cũng như so sánh với thời điểm cùng kì năm 2009.4 Tháng 76.

503 USD/tấn. lượng cà phê xuất khẩu là 973. Giá cà phê xuất khẩu năm nay đạt bình quân 1. xuất khẩu cà phê tháng 5/2010 hiện vẫn ở mức thấp. Ông Phan Hữu Để. So với cùng kỳ năm 2009. Con số này chỉ đạt 67. tương ứng giảm 186 triệu USD. Tính đến hết tháng 3/2010. Sang tháng 9. trị giá là 483 triệu USD. Tính chung 10 tháng năm 2010. tranh bán và mua bằng mọi giá. Các tháng 6. trong đó. trị giá 777 triệu USD.8. tăng 3. 2. phần trị giá giảm do lượng giảm là 147 triệu USD và phần trị giá giảm do giá giảm là 39 triệu USD. giảm 27.420.9% so với năm 2009. Nhưng kết quả. Tuy nhiên đã hồi phục sau đó và chạm mức cao nhất của 28 tháng trước đó ở gần 2.000 tấn. giảm 22% so với cùng kỳ năm trước.7. FOB.2. với mọi tiêu chuẩn. vào những ngày cuối năm. xuất khẩu cà phê 5 tháng đầu năm 2010 đã giảm 15. chiếm 2. đây là mức thấp nhất kể từ tháng 11 năm 2006.28 triệu USD. tình hình xuất khẩu cà phê của nước ta vẫn không có tiến triển gì khả quan hơn.46% tổng trị giá xuất khẩu hàng hoá của cả nước.763 tỷ USD trong năm 2010. tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm trước.160 đô la Mỹ/tấn vào ngày 16/3. dù không đạt được tăng trưởng về lượng nhưng được lợi về giá đã giúp cà phê mang về 1.19% so với tháng 4/2010. ước đạt 95 nghìn tấn. lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 345.37% so với tháng 1.biệt giá bình quân xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong tháng 3 năm 2010 chỉ đạt trung bình khoảng 1370 USD/tấn. Nói chung lại. trong đó 16 thị trường đứng đầu chiếm khoảng 79% tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu niên vụ. Hoa Kỳ và Đức là hai thị trường tiêu thụ hàng đầu có sự tăng trưởng khá.1 USD/tấn. xấp xỉ mức 94 nghìn tấn và 134 triệu USD tháng 5/2009. có sự thay đổi lớn về vị trí của các thị trường tiêu thụ lớn.02% về trị giá so với cùng kỳ năm 2009. giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam trong tháng cũng có sự gia tăng đáng kể. tăng 1.Xuất khẩu cà phê theo thị trường Nước ta hiện xuất khẩu cà phê sang 90 thị trường. từ chỗ không ai mua cà phê trong những tháng đầu năm 2010 thì đến giữa năm lại xảy ra tình trạng tranh mua. Dưới đây là số liệu thống kê tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang một số thị trường trong tháng 12 năm 2010: Biểu 3: Giá trị xuất khẩu cà phê Việt Nam sang một số thị trường năm 2010 STT Nước T12/2010 % so với T12/2009 1 Hoa Kỳ 35788494 45. so với 1. 2. kim ngạch xuất khẩu cà phê rang và cà phê hòa tan nước ta 6 tháng đầu niên vụ 2009/2010 là 343 triệu USD. và đạt mức bình quân khoảng 1290. Ngành cà phê trong nước cũng đã có năm “con Hổ” thắng lợi nhờ giá cao vào giữa cuối năm cho dù sản lượng thấp hơn năm 2009. lượng và trị giá xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong trong quý I/2010 đạt mức thấp nhất so với cùng kỳ 3 năm trở lại đây. tụt xuống vị trí thứ 6. tăng 2. Đây cũng là thời kì mà chúng ta “nhường lại thị trường” cho Brazil. Theo Tổng cục thống kê. đơn giá xuất khẩu cà phê đã tăng lên rõ rệt.75 2 Đức . năm 2010 trôi qua đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng trên thị trường cà phê toàn cầu.87% về giá trị. So với tháng 3 và tháng 4. Trong khi đó.440 tấn thu về kim ngạch 1.13% so với mức 1263 USD/tấn tháng 4/2010. giá cà phê xuất khẩu chao đảo trong những tháng đầu năm và rơi xuống đáy của 5 năm qua là 1.000 đô la Mỹ/tấn. Qua tháng Tư và tháng Năm. 77. diễn biến tương đối giống so với cùng kỳ năm 2009.2% so với tháng 3 và 81. Như vậy. tình hình xuất khẩu cà phê khá ổn định. Giá cà phê xuất khẩu tại cảng Sài Gòn trong tháng dao động từ 1230-1350USD/tấn.17% về sản lượng và 20. Tính chung 5 tháng đầu năm. thị trường tiêu thụ đứng đầu của năm 2009 là Bỉ có sự sụt giảm mạnh chỉ bằng 1/3 năm ngoái. Năm nay. nước ta xuất khẩu được khoảng 559 nghìn tấn cà phê.34% về lượng. Do những chuyển biến tăng giá của thị trường thế giới. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê. tháng 10 có sự tăng nhẹ cả về lượng và giá trị xuất khẩu. Tổng thư ký Hiệp Hội Cà phê ca cao Việt Nam dã đưa ra nhận định rằng: “Bất ngờ bởi.8%. ảnh hưởng của thời tiết cũng đã làm sản lượng cà phê thu hoạch sụt giảm.462 USD/tấn của năm ngoái” Có thể nói rằng. trị giá 133 triệu USD.

58 16 Đan Mạch .66 13 Hy Lap 854211 57.78 15 Ai Cập 361894 -79.19 6 Đức 8654002 -71.34 5 Hà Lan 11620386 409.24566247 -18.23 7 Anh 6429593 18.13 12 Canada 959573 34.04 10 Ba Lan 2338504 66.22 4 Bỉ 18284823 122.22 9 Malaixia 2796450 63.37 8 Mê hi cô 3189931 88.34 3 Italia 20648984 156.19 14 BồĐào Nha 786752 -34.96 11 Ấn Độ 1520253 -48.

Hoặc khi giá cà phê lên cao họ sẵn sàng thu hoạch sớm. Đến thời điểm chỉ còn 1. chứ chưa nói đến xuất khẩu. thường bán tháo khiến cho thị trường cà phê bấp bênh. Giá trị mặt hàng này thu về còn chưa tương xứng với tiềm năng của nó. có thể kể đến là sự thiếu bài bản trong kế hoạch cũng như chiến lược phát triển của ngành cà phê Việt Nam.dù quả còn xanh chưa đảm bảo được chất lượng. Trong khi cà phê rớt giá. tiêu thụ. diễn biến phức tạp. Hiệp hội cà phê Việt Nam. các nước ở Bắc bán cầu thu hoạch cà phê từ tháng 10 đến tháng 12 năm sau. chưa được thống nhất. dầu lại tăng khiến người trồng cà phê càng điêu đứng. chế biến xuất khẩu và thu mua cà phê xuất khẩu gặp khá nhiều khó khăn. thì giá xăng. Hàng năm.242677 5. Chính phủ nên đưa ra những chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực bao gồm mở các lớp đào tạo nông dân về kỹ . tranh bán ngay trên sân nhà. sâu bệnh không chỉ đối với cà phê trong nước mà còn ảnh hưởng cả tới các nước xuất khẩu khác nữa. Cà phê Việt Nam bị các nhà đầu cơ quốc tế thao túng cũng còn do một nguyên nhân nữa đó là do chúng ta chưa thiết lập được hệ thống chế biến.2: Giải pháp: Cần phải làm gì để cà phê Việt Nam phát triển bền vững.2011. mưa bão thất thường cũng ảnh hưởng đến sản lượng cà phê. Nếu xét các yếu tố khách quan. Mối liên kết giữa các doanh nghiệp chế biến. dẫn đến tình trạng tranh mua. nhưng hiện trong các hộ nông dân trồng cà phê cả nước vẫn còn khoảng 600 nghìn tấn cà phê chưa tiêu thụ được. đó là cà phê nguyên liệu. Nói về nguyên nhân sâu xa. Trung Mỹ và Ấn Độ. Tại Colombia. nên tiêu thụ quá chậm. Mặt khác. Viêt Nam thường xuất khẩu mạnh cà phê trong quý 4 năm trước và quý 1 năm sau.Cuối năm 2010 thị trường cà phê có những chuyển biến tốt. những nhà đầu tư trong và ngoài nước. Ở Trung Mỹ.chính phủ mà cả những người sống trên lợi ích thực của cây cà phê.Nguyên nhân và giải pháp: 3. Theo TS Hoàng Quốc Tuấn – GĐ Trung tâm Quy hoạch nông nghiệp (phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp tại miền Nam) cũng vì thiếu quy hoạch nên ngành cà phê VN có tăng trưởng cao nhưng lại thiếu ổn định và bền vững. khó lường. sâu bệnh và thị trường. Cà phê nguyên liệu: Cần có chính sách đảm bảo nguồn cung ứng đầu vào về cả số lượng và chất lượng. mưa liên tục trong thời gian qua đã ảnh hưởng lớn đến quá trình ra hoa ở cây. Chính phủ đưa ra những chính sách quy định về quyền hạn và các biện pháp kiểm soát nhà đầu tư không rõ ràng khiên cho việc sản xuất. nên họ đã cố tình ép giá xuống. Mà theo đánh giá của các chuyên gia là do họ biết các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều lô hàng “bán trừ lùi” chưa chốt giá (do chờ giá sẽ lên). hoạt động xuất khẩu cà phê luôn bị các nhà đầu cơ quốc tế thao túng. Thế nhưng. luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro trước biến động của khí hậu. ngành cà phê trong nước phải đối mặt với những biến động quá lớn.5 tháng là chúng ta sẽ phải “nhường” thị trường cho Brazil. vốn là câu hỏi nhức nhối bấy lâu không chỉ các ngành chức năng. Đó chính là Chính phủ. Tại thời điểm đầu năm 2010. năm nay chúng ta đã không đủ sức điều tiết được thị trường thế giới. Bởi vậy. mùa gió mùa gây mưa lớn làm trì hoãn hoạt động thu hoạch cà phê đến tận giữa tháng 11.Sự lo ngại khan hiếm của nguồn cung cà phê đã đẩy giá cà phê lên. thị trường cà phê có bước tiến triển mới Về yếu tố chủ quan mà trong đó con người là nhân tố góp phần tạo ra sự bất ổn. Chính những điều này đã làm ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững và thương hiệu của ngành cà phê 3. Vấn đề cần làm tập trung trong 3 lĩnh vực chính.60 3. Trước hết . do môi trường tác động chúng ta phải nói tới ảnh hưởng của thời tiết. chế biến cà phê và thị trường ổn định.1: Nguyên nhân: Khi mà chính phủ và Hiệp hội cà phê Việt đã tìm cách ngăn chặn sự rớt giá trong dịp cuối năm (dù với lí do là gì đi chăng nữa) thì lượng hàng xuất khẩu cũng như giá bán vẫn không được như ý. doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cà phê và không thể không kể đến những người nông dân. vô hình chung đã tự làm giảm giá cà phê Việt Nam trên chính sân nhà. thiếu tính ổn định. và có thể coi đó là những thắng lợi bất ngờ Nguyên nhân khiến thị trường cà phê Arabica liên tục leo thang là những lo lắng về nguồn cung ở Colombia.tháng 6. xuất khẩu với người trồng cà phê còn lỏng lẻo. dự tính đến giữa năm 2011 mới trình lên chính phủ phê duyệt. người dân cũng ít tiếp xúc với các thông tin nên khi nghe những tin đồn thất thiệt thì tâm lý không vững. khí hậu. thời tiết. Những chính sách còn dang dở. Còn tại Ấn Độ. xuất khẩu chuyên nghiệp. dự tính sẽ làm giảm sản lượng vụ mùa 2010. còn các nước ở Nam bán cầu thu hoạch cà phê từ cuối tháng 4 .

Hiện chúng ta rất cần có đội ngũ nhân viên tìm hiểu và nghiên cứu thị trường để đạt hiệu quả cao trong khâu tìm kiếm thị trường mới. không hái non xanh và lọc tạp chất để đảm bảo chất lượng. dự đoán các thiên tai để hạn chế ảnh hưởng. Bên cạnh mở rộng diện tích cây trồng mới cần phải cải tao chăm sóc những diện tích có sẵn. có chọn lọc. Bộ Nông nghiệp – phát triển nông thôn cũng cần triển khai nhiều chương trình tái canh cây cà phê từ nguồn vốn của ngân hàng. doanh nghệp cần có chính sách thu mua và tạm trữ hợp lý để tránh việc phải bán với mức giá thấp để tránh lỗ và khi có thể tăng giá thì lại hết hàng.bảo hiểm rủi ro ( điều mà ở Việt Nam chưa có). tăng cường chính sách khuyến nông. Hiện đầu năm 2011. ngành cà phê sẽ tiếp tục thực hiện các giải pháp để đạt các chứng chỉ quốc tế như cà phê UTZ. Phát triển mô hình hợp tác xã cà phê. xã hội và kinh tế) Bên cạnh xuất khẩu cà phê dưới dạng thô (cà phê hạt) chúng ta hoàn toàn có thể phát triển cà phê đã chế biến như cà phê hòa tan. trồng lại theo từng khu vực có quy hoạch. nghiên cứu truyền đạt kỹ thuật trồng chăm sóc tới người dân. hiểu về thương mại điện tử ( bởi đây là thị trường dẫn dắt giá cà phê. sơ chế. rang. chế biến đến xuất khẩu nhằm tạo sức mạnh và sự đồng thuận. đảm bảo về tài chính. Phải đào tạo những cán bộ giỏi ngoại ngữ. Sau khi thu hoạch. Kỹ thuật thu hoạch đúng thời vụ. cùng nhau hợp tác. đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo tay nghề cho công nhân tại các nhà máy chế biến. khuyến khích người dân trồng và phát triển cây cà phê. loại bỏ các hạt kém chất lượng. không cạnh tranh được các doanh nghiệp nước ngoài. đảm bảo nguồn nước tưới cho cây.thuật canh tác. cho nông dân vay tiền để giao dịch cà phê kỳ hạn. say cà phê. mở rộng và phát triển hệ thống giao thông thuận lợi từ đó tạo cơ hội mới. kinh doanh cà phê của . -Chế biến cà phê: Chế biến là khâu quyết định tới chất lượng cà phê. Đầu tư phát triển giống cây cà phê có sản lượng và chất lượng cao. dám tận dụng cơ hội cũng như dám liều. người nông dân cần có có kỹ thuật sơ chế. Bên cạnh đó. đây có thể coi là dấu hiệu đáng mừng cho cà phê trong nước để có một thị trường đảm bảo tương đối ổn định và hứa hẹn lâu dài nếu được đầu tư đúng và hiệu quả. xuất xứ. Các doanh nghiệp phải liên kết với nhau thành lập Quỹ cà phê. cá thể. chính phủ đã chính thức mở cửa 2 sàn giao dịch lớn ở Buôn Mê thuột và Triệu Phong nhằm kết nối với thị trường thế giới với hi vọng giải được bài toán khó cho cà phê Việt Nam. chế biến và kinh doanh cà phê nhân bền vững dựa trên những cam kết liên tục cải tiến về mặt trách nhiệm môi trường. phòng chống sâu bệnh. đảm bảo tính truy nguyên và tin tưởng Bộ nguyên tắc cà phê 4C : các thành viên tham gia cùng hợp tác vì một ngành sản xuất. . ( UTZ CERTIFIED là chương trình chứng nhận cà phê toàn cầu. rang sấy để đảm bảo cà phê không bị hỏng. chuyên môn.Ổn định thị trường: để có được thị trường ổn định không phải là điều có thế làm một sớm một chiều. Hiện mô hình hợp tác xã cà phê đã và đang được chú tâm xây dựng trong thời gian tới. trồng cà phê mọtt cách có trách nhiệm. Các doanh nghiệp cần đầu tư công nghệ chế biến tiên tiến. phân loại cà phê. hạn chế cách làm riêng lẻ. Bên cạnh đó. mốc làm giảm chất lượng. Mở thêm nhiều sàn giao dịch cà phê đạt tiêu chuẩn để có thể cạnh tranh một cách công bằng với cà phê các nước. do đó phải có kỹ thuật mới có thể làm được). đảm bảo nguồn gốc. thiếu đồng bộ và nguồn vốn hạn chế. tiến hành liên kết tạo ra một “bó đũa” khổng lồ. loại bỏ các tạp chất. giao dịch và mua bán quốc tế. Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vào trồng cà phê. đủ sức. cà phê 4C nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu. Như vậy luôn có vùng đảm bảo nguồn nguyên liệu cung ứng đầu vào.Chúng ta cũng có thể học hỏi kinh nghiệm của chính phủ Braxil. Ban điều hành việc phát triển cà phê Là nước xuất khẩu đứng thứ 2 thế giới song chúng ta lại chưa thể chi phối thị trường thế giới mà còn bị các nhà đầu tư nước ngoài chi phối. quảng bá rộng rãi thì tương lai về sự phát triển thương hiệu cà phê Viêt Nam là không xa. sử dụng các chất bảo vệ thực vật hợp lý. Các doanh nghiệp Việt Nam thường hoạt động nhỏ lẻ. song nếu các doanh nghiệp nội có tiềm năng. Tìm hiểu mở rộng thị trường và những đối thủ cạnh tranh trực tiếp cũng như đối thủ tiềm tàng. doanh nghiệp Bộ cũng phải phối hợp với các địa phương đẩy mạnh liên kết từ khâu canh tác. Trong khâu canh tác và chế biến. Cần và nên đưa ra những chính sách hỗ trợ việc mở rộng thị trường của ngành cà phê. bảo quản và chế biến cà phê. không ứ đọng lại trong sản phẩm. cà phê fin với nguồn lợi đem lại gấp nhiều lần nhằm xây dựng thương hiệu cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới.những nhân tố ảnh hưỏng trực tiếp và gián tiếp về lâu về dài của hoạt động xuất khẩu. áp dụng chính sách hợp lý. Việc cà phê Viêt Nam chưa thể điều khiển được thị trường có thể do nhiều nguyên nhân.

Dự báo tình hình xuất khẩu cà phê của Viêt Nam năm 2011 Trong tháng 12 năm 2010.17 triệu tấn cà phê. Trong năm 2011. Trước đó. sản lượng cà phê cả nước giảm 15% so với niên vụ trước. trong tháng 9. theo đánh giá của Bộ NN-PTNT.73 triệu bao. lên 18. kim ngạch xuất khẩu đạt 1. tăng sản lượng xuất khẩu và lợi nhuận doanh nghiệp Việt Nam cần nghiên cứu và tìm hiểu những thị trường cà phê truyền thống như EU.Việt Nam. Nga. Mỹ và những thị trường mới nổi như Trung Quốc.000 USD/tấn thì kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này có thể đạt 2 tỷ USD. Tuy nhiên. giá xuất khẩu cà phê trung bình năm 2011 đạt khoảng 1.5 triệu bao (bao 60 kg). 4. sản lượng cà phê của Việt Nam niên vụ 2010-2011 có thể giảm 2.Để có chỗ đứng trên thị trường thế giới.503 USD/tấn.2010. Ấn Độ.8%.9% so với năm 2009.73 tỷ USD tăng 1. Nhật. Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO) đã đưa ra dự báo.Theo nhận định của các chuyên gia. quả dự báo của Trung tâm tin học và thống kê) . ICO dự báo sản lượng cà phê VN tăng 4%. Biểu 4: Dự báo xuất khẩu lượng nghạch cà phê năm 2011 điểm (tấn) (USD) 1 2 3 4 Thời Khối Kim Quý Quý Quý Quý 496474 318595 180387 286501 773322304 521596220 305392165 444643169 Cộng 1281957 2044953858 (Nguồn: Kết . theo nhận định của các chuyên gia nếu giá cà phê thế giới tiếp tục giữ ở mức khoảng 2. Xuất khẩu cà phê năm 2010 của nước ta ước đạt khoảng 1. từ 18 triệu bao xuống 17.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful