CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

THỊ TRƯỜNG PHI TẬP TRUNG (OTC) Ở VIỆT NAM Nghiên cứu tình huống
Huỳnh Thế Du Vũ Thành Tự Anh

Tháng 7 năm 2005

Nhưng sau đó 10 năm. Tính đến thời điểm tháng 6 năm 2005. Sau một thời gian tìm hiểu. nhóm của ông Reform đã đưa ra một phác thảo sơ bộ về thị trường OTC ở Việt Nam như sau: Quy mô thị trường Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê về thực trạng doanh nghiệp năm 20012003. thị trường chứng khoán Việt Nam ở thời điểm này chỉ phục vụ cho 26 công ty.OTC). Sau 5 năm khai trương. Kể từ thời điểm này. Nhưng câu hỏi đặt ra là quy mô. rời rạc. trung tâm giao dịch chứng khoán đầu tiên ở Việt nam mới đi vào hoạt động. Nhưng ngoài. Vinamilk. tính đến cuối năm 2002. Vũ Thành Tự Anh . phương thức hoạt động của thị trường OTC ở Việt Nam như thế nào? Đây cũng chính là câu hỏi mà nhóm của ông Reform – nhóm chuyên gia nghiên cứu về hệ thống tài chính Việt Nam đang tìm cách trả lời. Luật công ty ra đời vào năm 1990. Đây chính là những cổ phiếu mà các nhà đầu tư có tổ chức. Việc tồn tại thị trường OTC ở Việt Nam là một thực thể khách quan. mới có 26 công ty chính thức niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Không phải cổ phiếu của tất cả các công ty cổ phần đều được mua bán. Tổng vốn tự có của các doanh nghiệp này là 20. cả nước có 2. Hay nói cách khác. Đây chính là nguồn cung của thị trường OTC. các công ty cổ phần bắt đầu được thành lập và hoạt động. tổ chức của thị trường này chưa được chặt chẽ. tính đến thời điểm tháng 6 năm 2005. Bánh kẹo Kinh đô.937 tỷ đồng. nhưng có những loại cổ phiếu tuy chưa được niêm yết trên thị trường chính thức trên sàn.272 công ty cổ phần không có vốn nhà nước. trao đổi thường xuyên mà chỉ có một ít trong số đó được giao dịch. Sài Gòn Thương Tín. nhất là các quỹ đầu tư rất quan tâm. Tổng vốn điều lệ của các công ty này hơn hơn rất nhiều lần khối lượng vốn hoá trên thị trường chính thức1. chưa có người tạo lập và dẫn dắt thị trường chứ không thể nói là Việt 1 Tổng hợp từ Internet và các báo 2 Huỳnh Thế Du. còn hàng nghìn cổ phiếu của các công ty khác được giao dịch trên thị trường phi tập trung (Over The Counter . Hay nói theo cách của một số người thường nói là thị trường OTC ở Việt Nam rất nhiều tiềm năng. nhưng chúng được giao dịch rất sôi động như cổ phiếu của các ngân hàng cổ thương mại cổ phần Á Châu. Thị trường phi tập trung ở Việt Nam đang tồn tại là một thực thể khách quan. gấp 20 lần tổng vốn điều lệ và 10 lần vốn hoá của các công ty niên yết tại thời điểm đó. 26 công ty nêu trên. Chỉ có thể nói rằng hoạt động của thị trường này còn manh mún. cả nước có gần 2000 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá và trên 3000 công ty cổ phần. Có những loại cổ phiếu gần như không bao giờ được giao dịch. Trong đó 557 công ty nhà nước được cổ phần hoá.Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Thị trường OTC ở Việt Nam THỊ TRƯỜNG PHI TẬP TRUNG (OTC) Ở VIỆT NAM Ở Việt nam.829 công ty cổ phần. 2.

được mua cổ phiếu của một số doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá là vấn đề mà các nhà đầu rất quan tâm... lĩnh vực trong một khu vực địa lý (TP. hội. các loại cổ phiếu được mua bán bán gồm: o Cổ phiếu lần đầu tiên phát hành khi cổ phần hoá: Việc mua được. Quy định về mua bán. Hiện nay. chỉ cổ phần không ghi danh mới được chuyển nhượng tự do. Ngoài ra. Đối với các doanh nghiệp loại này. tất cả mọi người đều có thể tham gia mua bán chứng khoán.) là chủ yếu. chuyển nhượng cổ phiếu của các công ty cổ phần Theo Luật công ty năm 1990 và Luật doanh nghiệp năm 1999. các nơi là rất hiếm. có triển vọng phát triển trong tương lai hoặc có những lợi thế thương mại riêng biệt (có một vị trí mặt bằng thuận lợi…). nhóm các nhà đầu tư tập trung vào một số ngành. Vì rất nhiều công ty sau khi cổ phần hoá. Việc một nhà đầu tư tham gia đầu tư vào tất cả các lình vực. diễn đàn để trao đổi thông tin với nhau.Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Thị trường OTC ở Việt Nam nam chưa có thị trường OTC và Việt nam đang đặt mục tiêu xây dựng đến năm 2010 sẽ có thị trường này như một số người thường nói. Như vậy. cổ phiếu của các công ty hoạt động kinh doanh hiệu quả. Hà Nội . Vấn đề đặt ra là khi một người nào đó muốn bán hoặc mua cổ phiếu của một công ty cổ phần nào đó thì họ phải làm như thế nào? Nhà đầu tư và tổ chức của các nhà đầu tư Việc tham gia thị trường OTC rất đơn giản. Cổ phiếu của các công ty cổ phần thông thường: Đối với loại này. giá của cổ phiếu gia tăng rất cao. cổ phiếu của các công ty cổ phần được quyền chuyển nhượng tự do2. phương thức trao đổi được các nhà đầu tư tự do ưa thích là trao đổi qua diễn đàn trên mạng Internet hoặc trao đổi tại các điểm “café chứng khoán”. các công ty chứng khoán còn tham gia trên trên thị trường này với tư cách là các nhà môi giới. với lợi thế của của mình. Tuy nhiên. Có hai loại cổ phiếu chính được các nhà đầu tư quan tâm gồm: Cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá. dẫn đầu một lĩnh vực kinh doanh nào 2 Luật công ty năm 1990 quy định. hoạt động của các nhà đầu tư trên thị trường không phải là độc lập mà họ thường lập thành các nhóm. o Cổ phiếu sau khi cổ phần hoá (cổ phiếu này được mua bán thông thường như cổ phiếu của các công ty cỏ phần khác). cổ phần ghi danh muốn chuyển nhượng phải có một số điều kiện kèm theo như được sự cho phép của đại hội cổ đông 3 Huỳnh Thế Du. Các nhà đầu tư. Hàng hoá của thị trường Hàng hoá của thị trường OTC chính là các loại cổ phiếu của cách doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả.HCM. Vũ Thành Tự Anh . cổ phiếu của các công ty cổ phần được giao dịch tự do và không bị hạn chế bởi bất kỳ một quy định nào.

).Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Thị trường OTC ở Việt Nam đó là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư. Cổ phiếu của Kinh đô. nhưng xu hướng phát triển của thị trường thì phương thức này sẽ chiếm ưu thế hơn so với phương thức trực tiếp mua bán nêu trên trong tương lai. quyết định việc mua bán chứng khoán. ngân hàng. Mặt khác. việc giao dịch mua bán.. Vũ Thành Tự Anh 4 . việc có được một bản báo cáo tài chính của doanh nghiệp đối với một người bình thường là điều không hề đơn giản. Đây là phương thức phổ biến hiện nay. trừ một số loại hình doanh nghiệp phải thực hiện kiểm toán như bảo hiểm. nhiều khi cũng xảy ra vấn đề bất cân xứng về thông tin trong quá trình mua bán. giao dịch Để có thể mua bán cổ phiếu trên thị trường OTC. Cơ chế mua bán Việc mua bán các loại cổ phiếu trên thị trường OTC được thực hiện theo phương thức “thuận mua.. vừa bán” mà không bị bất cứ một lực bên ngoài (giới hạn giá. điều hành nội bộ. nhất là mua bán các laọi cổ phiếu của các công ty cổ phàn hoá lần đầu không phải lúc nào cũng tuôn theo cơ chế này. Sacombank thuộc loại này. các nhà đầu tư cần phải có thông tin về loại cổ phiếu đó. Bên mua và bên bán có thể giao dịch thông qua các nhà môi giới chứng khoán. Mặc dù thực hiện theo cơ chế thuận mua vừa bán. Để có thông tin này. nhà đầu tư có thể thực hiện theo một trong hai phương thức sau Bên mua và bên bán trực tiếp gặp nhau để thương lượng. nhà đầu tư có thể tìm kiếm từ các nguồn sau: Thông tin từ các báo cáo tài chính Theo quy định của Nghị định về kiểm toán độc lập. các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. báo cáo tài chính (báo cáo thuế. Hiện nay. giao dịch các loại chứng khoán trên thị trường này. Do những mục đích khác nhau mà nhiều doanh nghiệp có nhiều hệ thống sổ sách kế toán. Nói chung. thông tin nào không nên công bố. Như vậy. nhà nước chỉ khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện kiểm toán các báo cáo tài chính. ACB. Phương thức mua bán. Do Huỳnh Thế Du. cơ chế mua bán các loại chứng khoán trên thị trường OTC theo đúng cơ chế thị trường. Thu thập thông tin của các loại cổ phiếu Để có thể mua một loại chúng khoán nào đó trên thị trường. nhưng thực tế. Tuy nhiên. phương thức này ít phổ biến hơn. doanh nghiệp nhà nước. lượng cổ phiếu…) nào tác động. nhất là trong điều kiện mà ngay bản thân các doanh nghiệp không biết thông tin nào nên công bố. số còn lại (chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp). vay vốn ngân hàng. nhìn chung các công ty cổ phần chưa niêm yết không có báo cáo tài chính được kiểm toán.

Với những trường hợp như vậy. Nhưng trong thực tế. nhược điểm của nguồn dữ liệu này là rời rạc. có những địa điểm (café chứng khoán) mà ở đó các nhà đầu tư tự do gặp gỡ. chuyển nhượng rất sôi động. việc có được thông tin từ các cơ quan này gần như là nhiệm vụ là bất khả thi đối với các nhà đầu tư.vnn.vn các công ty chứng khoán ….vietstock. có những nguồn thông tin đề cập nhiều đến các doanh nghiệp là tạp chí chứng khoán (trang 13). Thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng Khi không thể thu thập thông tin về doanh nghiệp từ các đầu mối thông tin nêu trên. phản ánh một cách chính xác tình hình. nhà đầu tư bằng sự quen biết. để đưa ra quyết định đầu tư. Chính điều này. mà một số trang web như www. trao đổi thông tin về các loại chứng khoán. Như vậy câu hỏi đặt ra là các nhà đầu tư lấy thông từ đâu? Có hai nguồn thông tin quan trọng nhất làm cơ sở cho việc ra quyết định của các nhà đầu tư. nếu có nộp báo cáo cho cơ quan chức năng thì các thông tin cũng rất chung chung. chuyển nhượng. Thu thập thông tin qua các cơ quan chức năng Theo quy định. Tuy nhiên. các nguồn thông tin nêu trên không đủ để các nhà đầu tư ra quyết định của mình. Thực tế.Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Thị trường OTC ở Việt Nam đó. tình hình doanh nghiệp. Hiện nay. www. tính cập nhật của các thông tin này không cao. doanh nghiệp phải báo cáo tình hình hoạt động cho cơ quan đăng ký kinh doanh (Sở Kế hoạch Đầu tư). thậm chí có nhiều loại chứng khoán được mua bán. Loại thứ hai là thông tin được lấy không chính thức từ bên trong doanh nghiệp. không phải là căn cứ thật sự vững chắc. nhóm kinh doanh chứng khoán. Thu thập thông tin từ các nguồn khác Nhìn chung. Vì vậy. nhiều loại chứng khoán được mua bán trên cơ sở tin đồn (tâm lý bầy đàn “herd behavior”) xuất hiện trong trường hợp này. Nhưng các cơ quan chức năng không có tránh nhiệm và nghĩa vụ công bố các thông tin của doanh nghiệp. việc thu thập thông tin từ bản thân doanh nghiệp qua còn đường chính thức là điều không hề đơn giản nếu nhà đầu tư. Vũ Thành Tự Anh 5 . Trung tâm này lưu trữ các thông tin cơ bản của các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng. hay bằng những kỹ thuật.com. Mặt khác. Loại thứ nhất là thông tin từ những hội. còn có một tổ chức lưu trữ thông tin về các doanh nghiệp đó là trung tâm thông tin tín dụng (CIC) thuộc Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên. các chứng khoán vẫn được mua bán. rủi ro Huỳnh Thế Du. Ngoài ra. Đây là những thông tin hết sức quan trọng để nhà đầu tư đưa ra quyết định của mình. Tuy nhiên việc tuân thủ quy định này của các doanh nghiệp không thực sự nghiêm túc. nhất là những người không có những mối liên hệ nhất định với công ty đó. Trên thực tế. Đối với thông tin này. nhiều quyết định mua bán được dựa trên cảm giác của nhà đầu tư. nhà đầu tư có thể thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng. những biến cố xảy ra bên trong doanh nghiệp. chiến thuật riêng mà họ có thể lấy được từ những đầu mối quan trọng. tính tin cậy không cao. Với những thông tin như trên.

Trường hợp những nhà đầu tư mới tham gia vào là rất hạn chế.1% số công ty cổ phần hiện nay. Mặt khác. Khả năng thao túng của một nhóm nào đó là rất có thể xảy ra. Có như vậy. Huỳnh Thế Du. Chúng ta cùng xem xét hộp dưới đây và trung tâm giao dịch chứng kháon Hà Nội và thị trường phi tập trung ở Việt Nam. không có sự liên kết. vấn đề đặt ra đối với thị trường OTC ở Việt Nam là với những nền tảng như trên. mới tạo ra tính thống nhất và những nguyên tắc chung các nhà đầu tư tham gia. Sở nhiều nước. cần phải có các nhà tổ chức thị trường. các nhà đầu tư chỉ có một cách duy nhất là chịu mất tiền mà chẳng có một cơ chế nào bảo vệ họ Chính những vấn đề nêu trên đã hạn chế sự tham gia của các nhà đầu tư tự do. rủi ro đối với các nhà đầu tư trên thị trường OTC là rất lớn. và một số lượng tương tự thường xuyên được đưa tin trên các thị trường OTC quả là con số vô cùng khiêm tốn . Điều kiện để phát triển thị trường OTC ở Việt Nam Thị trường OTC hay ở bất kỳ nền kinh tế thị trường nào luôn tồn tại một cách khách quan. Đối với Việt Nam. Với con số hơn 5. những vấn đề sau cần được xem xét để tạo ra một nền tảng cho thị trường phát triển. nhà nước đang triển khai kế haọch xây dựng thị trường phí tập trung. các nhà tổ chức thị trường thường là hiệp hội của các nhà đầu tư chứng khoá lập nên. trên thị trường OTC Việt Nam. gao dịch chứng khoán trên thị trường phi chính thức thường diễn ra xung quanh những người biết rõ về doanh nghiệp đó. Tỷ lệ đầu tư vào cổ phiếu chiếm một phần rất nhỏ so với tỷ lệ tiền gửi tại các tổ chức tài chính. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân chính làm cho thị trường OTC ở Việt Nam kém sôi động. Các nhà tổ chức và tạo lập thị trường Để thị trường phát triển lành mạnh. các giao dịch diễn ra rời rạc. Đài Loan).0. Do đó. Nói chung việc mua bán. nhất là vấn đề thu thập và tiếp cận thông tin.Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Thị trường OTC ở Việt Nam đối với các nhà đầu tư là rất lớn. Trường hợp mua phải như vậy. Để thị trường này phát triển. việc phát triển thị trường OTC cùng với thị trường chính thức trở thành một kênh giao dịch chính cho nền kinh tế là điều hết sức. Các nhà đầu tư tự do thường chỉ tham gia đầu tư vào các công ty hoạt động trong lĩnh vực mà họ có sở trường. Hay nói một cách khác là hiện tại chưa có những nhà tổ chức thị trường. tổ chức hoạt động vì lợi ích của các nhà đầu tư này (trường hợp của Hoa Kỳ. Việc mua phải các loại cổ phiếu dỏm của những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ vì một lý do gì đó được đánh bóng lên là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Vũ Thành Tự Anh 6 . Những khó khăn và rủi ro của các nhà đầu tư trên thị trường OTC Với cơ chế mua bán nêu trên.000 công ty cổ phần mà chỉ có 26 công ty niêm yết chính thức. nhất là khi các giao dịch trên thị trường OTC tương đối sôi động. độ tin cậy và căn cứ khi đưa ra các quyết định đầu tư là rất thấp. Tuy nhiên. Không có bất cứ ai giám sát hay chịu trách nhiệm. hạn chế hoạt động của thị trường phi tập trung.

aspx?tabid=850 7 Huỳnh Thế Du. Ngày 05/8/2003 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển TTCK Việt Nam đến 2010. Mô hình hoạt động của TTGDCK Hà Nội đã từng bước được cụ thể hoá. gọn nhẹ. từ 2005 đến 2007 . các trường hợp khác cũng được khuyến khích đấu giá qua TTGDCK. theo tinh thần Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần vừa được Chính phủ ban hành và thông tư số 126/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 187/2004/NÐ-CP. Tổ chức đấu giá cổ phần cho các doanh nghiệp : TTGDCKHN cung cấp các phương tiện để thực hiện đấu giá cổ phần. Vũ Thành Tự Anh . Tháng 6/2004. Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa có khối lượng cổ phần bán ra trên 10 tỷ đồng phải tổ chức đấu giá cổ phần tại TTGDCK để thu hút người đầu tư.gov. Trong đó quy định các doanh nghiệp khi cổ phần hoá phải bán đấu giá công khai ra bên ngoài tối thiểu 20% vốn điều lệ. có thể nói cơ sở pháp lý ban đầu cho hoạt động của TTGDCK Hà Nội đã được thiết lập. có thể khái quát các nội dung hoạt động chính trong giai đoạn đầu của TTGDCK Hà Nội như sau: 1. theo đó. vừa phải đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của nền kinh kế. Bộ tài chính ra Thông báo số 136/TB/BTC nêu kết luận của Lãnh đạo Bộ về mô hình tổ chức và xây dựng thị trường giao dịch chứng khoán Việt Nam. xây dựng thị trường giao dịch cổ phiếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội.Phát triển TTGDCKHN thành thị trường phi tập trung phù hợp với quy mô phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. Theo đó.Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Thị trường OTC ở Việt Nam HỘP 1 TRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI VÀ THỊ TRƯỜNG OTC VIỆT NAM3 Việc xây dựng mô hình hoạt động cụ thể cho Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội có ý nghĩa rất quan trọng. Theo đó. Như vậy. bao gồm 3 http://www. 2. đặc biệt là cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá.thực hiện đấu giá cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá và đấu thầu trái phiếu chính phủ đồng thời tổ chức giao dịch chứng khoán chưa niêm yết theo cơ chế đăng ký giao dịch.vn/ssc/Detail. Trong đó. Tổ chức đấu thầu trái phiếu : TTGDCKHN tổ chức đấu thầu trái phiếu.ssc. Gần đây. Giai đoạn sau 2007 . Bộ Tài chính đã ra Quyết định số 244/2004/QÐ-BTC ban hành Quy chế tạm thời tổ chức giao dịch chứng khoán tại TTGDCK Hà Nội. chuẩn bị điều kiện để sau 2010 chuyển thành Thị trường giao dịch chứng khoán phi tập trung (OTC). Trung tâm GDCK Hà Nội sẽ phát triển theo hai giai đoạn: Giai đoạn đầu. vừa phải phù hợp với quy mô và lộ trình phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam. định hướng xây dựng Trung tâm GDCK Hà Nội thành một thị trường giao dịch phi tập trung (OTC) đơn giản.

đối với các công ty không niêm yết. đã khuyến khích cac doanh nghiệp làm cho hệ thống sổ sách. cộng với nhựng vấn về mập mờ trong công tác thuế. Chính điều này. để có thể đánh giá các công ty không niêm yết (cũng như niêm yết) cần phải có một tổ chức đánh giá xếp loại độc lập đảm bảo các điều kiện sau: Huỳnh Thế Du. báo cáo kế toán của mình trở nên không minh bạch là rào cản để việc phát triển thị trường. Tuy nhiên. Tổ chức đánh giá và xếp loại mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp Có một khác biệt rất lớn giữa các công ty niêm yết trên thị trường chính thức và các công ty mua bán trên thị trường phi chính thức là yêu cầu công khai thông tin. điều này là không bắt buộc.Các loại trái phiếu chính phủ.Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Thị trường OTC ở Việt Nam các loại trái phiếu chính phủ. Tuy nhiên. + Phương thức giao dịch báo giá trung tâm. rõ ràng. chưa thực hiện niêm yết tại TTGDCKTP. Ngày 8. HCM. Do đó. . hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký giao dịch phải có lãi. giải pháp này có tạo động lực cho sự phát triển của thỉtường OTC hay không cần phải có thời gian để trả lời. điều này là không bắt buộc mà chỉ được khuyên khích.2005 TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương hoạt động Như vậy. Tất cả các thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp niêm yết đều phải được công bố kịp thời.Các loại chứng khoán của các công ty cổ phần có vốn điều lệ từ 5 tỷ đồng trở lên.3. trong khi đối với các ông ty không niêm yết. số cổ đông tối thiểu là 50 người (kể cả trong và ngoài doanh nghiệp). Có mộthệ thống kế toán và các yêu cầu kiểm toán nhằm thể hiện đúng thực trạng của doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết trong việc phát triển thị trường OTC. Khi các thông minh bạch. Nhà nước đã đứng ra làm nhà tạo lập và tổ chức thị trường OTC. việc công bố thông phải tuân theo các quy định hết sức chặt chẽ. trái phiếu công trình … 3. trái phiếu chính quyền địa phương. trái phiếu chính quyền địa phương Phương thức giao dịch áp dụng tại TTGDCKHN: + Phương thức giao dịch thoả thuận. trái phiếu được chính phủ bảo lãnh. Vũ Thành Tự Anh 8 . Tổ chức giao dịch chứng khoán theo cơ chế đăng ký giao dịch: Hàng hoá giao dịch trên TTGDCK Hà Nội: . Hệ thống kế toán và những yêu cầu kiểm toán thể hiện đúng sức khoẻ của doanh nghiệp Đối với các công ty niêm yết chính thức. cũng như thị trường chính thức. các nhà đầu tư sẽ cso khả năng đáinh giá thực trạng công ty một cách tốt nhất.

Các kết quả đánh giá cần phải dựa trên sự kết hợp các phương pháp định tính và định lượng. Được biết hiện nay đã có một số tổ chức đứng ra thực hiện việc phân đánh giá và xếp hạng doanh nghiệp như Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của Ngân hàng Nhà nước Huỳnh Thế Du. lòng tin của các tổ chức độc lập (nhà đầu tư. . trong đó có việc đối chiếu lại một cách chặt chẽ (rigorous back testing). nhà bảo hiểm.Tính khách quan: Phương pháp đánh giá tín dụng cần phải chặt chẽ.Tính tin cậy: Trong một chừng mực nhất định. phương pháp đánh giá đối với mỗi khu vực thị trường. . khoảng thời gian đánh giá. Để được các cơ quan chủ quản ngân hàng công nhận. Vũ Thành Tự Anh 9 .Các nguồn lực: Một tổ chức đánh giá tín dụng độc lập cần phải có đủ các nguồn lực cần thiết để thực hiện việc đánh giá với chất lượng cao. hầu hết các dự án vay vốn từ WB hoặc ADB đều công khai trên web rõ ràng phương pháp luận cụ thể để đánh giá một dự án. và xu hướng thay đổi các kết quả đánh giá. phương pháp luận chung để đánh giá tín dụng của các tổ chức đánh giá cần phải được công khai. Ngoài ra. Ngoài ra. Ngoài ra.Khả năng tiếp cận quốc tế/ Tính minh bạch: Các kết quả đánh giá cần được cung cấp cho các tổ chức trong và ngoài nước để sử dụng trong các mục đích hợp pháp và với các điều kiện cung cấp tương đương nhau. .Về việc cung cấp thông tin: Tổ chức đánh giá tín dụng độc lập cần cung cấp các thông tin về phương pháp đánh giá. Để được công nhận. tỷ lệ không trả được nợ trong thực tế ứng với mỗi nhóm xếp hạng. các kết quả đánh giá cần phải liên tục được rà soát và điều chỉnh kịp thời theo những thay đổi về tình hình tài chính. cần phải được sử dụng trước đó ít nhất một năm và nên là ba năm . có hệ thống và phải căn cứ vào các số liệu quá khứ theo một phương pháp đánh giá nào đó.Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Thị trường OTC ở Việt Nam . điều này sẽ tránh được những che đậy thông tin từ bên phía khách hàng đặt mục tiêu có nguồn tín dụng bằng mọi giá. Quá trình đánh giá càng ít bị ảnh hưởng bởi những mâu thuẫn về lợi ích có thể phát sinh do thành phần của hội đồng quản trị hoặc cơ cấu cổ đông của công ty gây ra càng tốt. ví dụ khả năng từ xếp hạng AA xuống xếp hạng A theo thời gian. độ tin cậy của các kết quả đánh giá đạt được nhờ các tiêu chí đã nêu trên. Các nguồn lực này cho phép các tổ chức này tiếp xúc thường xuyên với cán bộ quản lý và nghiệp vụ tại các tổ chức đang được đánh giá tín dụng để bổ sung các thông tin quan trọng cho việc đánh giá tín dụng.Tính độc lập: Tổ chức đánh giá tín dụng độc lập cần phải độc lập và không chịu các sức ép về kinh tế hoặc chính trị có thể ảnh hưởng đến kết quả đánh giá. các đối tác kinh doanh) đối với các kết quả đánh giá của một tổ chức đánh giá tín dụng độc lập cũng là bằng chứng của độ tin cậy của các kết quả đánh giá này. . có nghĩa là bản thân ngân hàng cũng nên có những chuyên gia độc lập thẩm định từ phía nước ngoài nhằm áp dụng cho những dự án qui mô lớn. Độ tin cậy của một tổ chức đánh giá tín dụng độc lập cũng thể hiện ở việc các tổ chức này sử dụng các quy trình nội bộ nhằm tránh không cho các thông tin mật được sử dụng sai mục đích. một tổ chức đánh giá tín dụng độc lập không nhất thiết phải đánh giá các công ty ở hai quốc gia trở lên. bao gồm các khái niệm về khả năng không trả được nợ. ý nghĩa của mỗi bậc xếp hạng. Nguồn lực thẩm định tín dụng cũng nên làm việc theo nhóm.

Anh (chị) hãy đánh giá và đưa ra những nhận xét một cách tổng quát nhất về thị trường phi tập trung ở Việt nam vào thời điểm 06/2005 và thời điểm hiện tại. Tuy nhiên. Vũ Thành Tự Anh 10 . Khi mà quy mô của công ty ngày càng lớn. không có thói quen chấp nhận việc công khai. nhất là các công ty cổ phần cần phải chú ý đó là nâng cao hiệu quả của việc quản trị công ty. Văn hoá công khai và minh bạch trong hoạt động của các doanh nghiệp Việc có được một hệ thống kế toán và báo cáo tài chính tốt. Tạo niềm tin cho các nhà đầu tư. thị trường tài chính dài hạn là cần phải có văn hoá công khai và minh bạch. để có thể có được những giải pháp phát triển thị trường OTC ở Việt Nam cần có một sự nghiên cứu kỹ hơn. Đây mới chỉ là những chấm phá ban đầu. Nhưng những số liệu các tổ chức này đưa ra mới chỉ là bước đầu. Giải pháp để khắc phục những khó khăn nhằm tạo cho thị trường OTC một vai trò tích cực hơn là gì? Huỳnh Thế Du. một tổ chức đánh giá xếp loại mức độ tín nhiệm độc lập và có các nhà tổ chức thị trường là điều hết sức quan trọng. minh bạch tình hình hoạt động của mình sẽ là một rào cản rất lớn để áp dụng hệ thống chuẩn mực kế toán tốt. Hãy so sánh thi trường OTC ở hai thời điểm nêu trên. Mặt khác. trung tâm xếp hạng tín dụng của Vietnamnet. còn một vấn đề nữa mà các doanh nghiệp.Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Thị trường OTC ở Việt Nam Việt Nam. Câu hỏi gợi ý thảo luận 1. 2. công chúng. Khi mà các doanh nghiệp. có thông tin đủ độ tin cậy cho các tổ chức đánh giá mức độ tín nhiệm xếp loại một cách chính xác doanh nghiệp. Ngoài ra uỷ ban chứng khoán nhà nước đang triển khai kế hoạch hình thành tổ chức này (có thể là một công ty có vốn đầu tư nước ngoài) và Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính cũng đang lập kế hoạch thành lập công ty cổ phần xếp hạng tín dụng độc lập. Khi đó. khả năng không thể phát triển hoặc bị sụp đổ của thị trường là điều rất khó tránh khỏi. Trên đây là những vấn đề mà nhóm ông Reform đã tìm hiểu về thị trường phi tập trung ở Việt Nam. các công ty chứng khoán. bài bản hơn. cso một vấn đề hết sức quan trọng làm nền tảng cho việc phát triển thị trường OTC nói riêng. các chủ sở hữu không còn đồng thời là những người điều hành trực tiếp doanh nghiệp thì việc xử lý xung đột giữa người sở hữu và người điều hành cần được đặc biệt quan tâm.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful