A.

LÝ THUYẾT

1. Khái niệm: Ngoại tác xuất hiện khi sản xuất hay tiêu dùng của cá nhân (nhóm các cá nhân) này ảnh hưởng đến sản xuất hoặc tiêu dùng của cá nhân (nhóm các cá nhân) khác và không có sự đền bù hay thanh toán nào được thực hiện bởi cá nhân gây ảnh hưởng. Kết quả này tồn tại ngoài giao dịch thị trường và có thể là một lợi ích bên ngoài hay chi phí bên ngoài (ngoại phí). Trong các trường hợp này, ngoại tác làm biến đổi lợi ích ròng xã hội. Sự phân loại: 2. Tính hiệu quả: Các ngoại tác ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế dẫn đến các chênh lệch giữa chi phí hay lợi ích của cá nhân và xã hội bởi vì ngoại tác không phản ánh trong thị trường giá hàng hóa, không nhất thiết phản ánh đúng giá trị xã hội của nó. Do đó sự điều tiết của thị trường đã dẫn đến hoặc sản xuất quá nhiều hoặc sản xuất quá ít so với nhu cầu của xã hội, gây ra chi phí ngoài trong khi giá thị trường không phản ánh được tất cả các chi phí sản xuất ra nó thì diễn ra sự thất bại trên thị trường. 3. Ngoại tác tiêu cực và tính không hiệu quả của tác động ngoại tác tiêu cực a) Định nghĩa: Ngoại tác tiêu cực là là ngoại tác có tác động xấu đến đối tượng chịu tác động. b) Tính không hiệu quả của tác động ngoại tác tiêu cực: Vì các ngoại tác không được phản ánh trong giá thị trường nên chúng có thể là nguyên nhân gây ra tính phi hiệu quả kinh tế. Để thấy tại sao chúng ta hãy lấy ví dụ về nhà máy sản xuất đường Quãng Ngãi thải chất thải xuống dòng sông Trà Khúc. Hình bên dưới thể hiện các đường cung và đường cầu thị trường.
P MSC

B E’ P* E P1

Tổn thất kinh tế
MC

MEC

Q*

Q1

Q

nên sản lượng hiệu quả là Q*. Vì đường cầu biểu thị lợi ích biên của người tiêu dùng. mức sản lượng của nhà máy ( của ngành) có hiệu quả không? Trên đồ thị ta thấy. Vì thế. Khi sản lượng của hãng thay đổi thì chi phí ngoại sinh gây ra cho ngư dân ở hạ lưu cũng thay đổi. dù chúng ta xem xét ô nhiễm của bất kì hãng hay ngành nào thì tính phi hiệu . tại giao điểm giữa đường cung và đường cầu. Khi có ngoại tác. hãng sẽ tối đa hóa lợi nhuận khi sản xuất ở sản lượng Q1 khi giá bằng chi phí biên MC. đạt tại giao điểm của đường cầu và đường cung MC. Chênh lệch đó gọi là chi phí ngoại sinh biên MEC. Chi phí ngoại sinh này được biểu thị bằng đường MEC. Rõ ràng sản lượng của hãng (ngành) là quá cao. mỗi đơn vị sản lượng sẽ gây ra một lượng chất thải nhất định cần xả ra. Khi sản xuất. Giá đường là P1.Khi có các ngoại tác tiêu cực. Trên quan điểm của xã hội. Lượng sản xuất hiệu quả xã hội là Q*. Đường này thường dốc lên đối với hầu hết các dạng ô nhiễm vì khi hãng sản xuất thêm sản lượng và xả thêm chất thải xuống sông thì những thiệt hại tăng thêm đối với ngành đánh cá. Sản lượng hiệu quả là mức mà ở đó giá bằng chi phí xã hội biên của sản xuất – chi phí biên của sản xuất cộng với chi phí ngoại sinh biên của việc xả thải. Trên đồ thị đường chi phí xã hội biên được xác định bằng cách cộng chi phí biên và chi phí ngoại sinh biên tại mỗi mức sản lượng: MSC = MC + MEC Đường chi phí xã hội biên cắt đường giá ở mức sản lượng là Q*. tại đó giá cả bằng MSC. hãng đang sản xuất quá nhiều. Đường MC là chi phí sản xuất biên của một hãng điển hình. đạt tại điểm giao nhau giữa đường chi phí xã hội biên MSC và đường cầu D. nuôi trồng cũng tăng lên. Nhưng mức sản lượng cạnh tranh của ngành là ở Q1. Trong trường hợp này. mức sản lượng hiểu quả của ngành là mức mà ở đó lợi ích biên của mỗi đơn vị sản lượng tăng thêm bằng chi phí xã hội biên. chi phí xã hội biên MSC cao hơn chi phí tư nhân MC.

(2) QTT > QXH (sản lượng thị trường vượt quá sản lượng xã hội đòi hỏi) PTT < PXH (giá cả thị trường thấp hơn giá cả xã hội) (3) Vấn đề là cần phải đảm bảo hiệu quả chung cho xã hội (E’) chứ không chỉ nhằm mang lại hiệu quả riêng của thị trường (E). Cái giá phải trả đối với xã hội khi sản xuất quá mức: với mỗi đơn vị sản xuất cao hơn Q* cái giá đối với xã hội là chênh lệch giữa chi phí xã hội biên và lợi ích biên. Nhận xét : Khi có ngoại tác tiêu cực đã dẫn đến tình trạng (1) Hiệu quả thị trường (E) duy trì vượt quá hiệu quả xã hội (E’) mong muốn do chi phí biên thị trường (MC) khác với chi phí xã hội (MSC) vì có ngoại tác tiêu cực nên cần có chi phí biên ngoại tác (MEC). b) Tính không hiệu quả của ngoại tác tích cực: . gây ra tổn thát kinh tế do thị trường sản xuất vượt quá hiệu quả chung của xã hội tương ứng dt(E’BE). Nguyên nhân của tính phi hiệu quả là do việc định giá sản phẩm không chính xác. chứ không phải là chi phí xã hội biên. Điều đó. Giá của sản phẩm trên là quá thấp – nó phản ánh chi phí tư nhân biên của việc sản xuất của hãng. Chỉ ở mức giá P* cao hơn thì hãng ( ngành) sẽ sản xuất mức sản lượng hiệu quả. 4. hiện nay chưa có biện pháp can thiệp thích hợp thì thị trường có khuynh hướng sản xuất vượt quá hiệu quả chung của xã hội đòi hỏi.quả kinh tế vẫn là tình trạng sản xuất quá mức gây ra nhiều chất thải xả xuống sông. Do vậy. a) Ngoại tác tích cực và tính không hiệu quả của ngoại tác tích cực: Định nghĩa: Ngoại tác tích cực là là ngoại tác có tác động tốt đến đối tượng chịu tác động.

Đường MEB dốc xuống vì khi khối lượng rừng được trồng tăng thêm thì lợi ích ngoại tác tăng thêm ít hơn. Và việc trồng rừng này đã tạo ra lợi ích từ ngoại tác tích cực. nhờ đó có thể cải thiện mùa màng. ta xác định được mức sản lượng hiệu quả QE’ – tại đó. Do vậy. Ngành sẽ quyết định trồng rừng tại sản lượng QE tại giao điểm của đường cầu và chi và đường chi phí biên của ngành. biểu hiện bằng đường lợi ích ngoại tác biên – MEB. hiện nay chưa có biện pháp can thiệp thích hợp thì thị trường có khuynh hướng sản xuất dưới mức hiệu chung của xã .Giả sử ngành lâm nghiệp: rừng được trồng với mục đích chính là kinh doanh gỗ. ổn định đời sống của các hộ sử dụng nước sông… Đường chi phí biên của việc trồng rừng biểu hiện chi phí khi trồng nhiều rừng hơn – nó là một đừng nằm ngang vì chi phí này không bị ảnh hưởng của việc trồng thêm rừng. Nhận xét : Khi có ngoại tác tích cực đã dẫn đến tình trạng : (1) Hiệu quả thị trường (E) duy trì dưới mức hiệu quả xã hội (E’) mong muốn do lợi ích biên thị trường (MB) khác với lợi ích biên xã hội (MSB) vì có ngoại ứng tích cực nên cần có lợi ích biên ngoại ứng (MEB). Với đường MSB và đường chi phí biên. lợi ích xã hội biên từ việc trồng rừng bằng với chi phí biên của việc trồng rừng. việc có rừng lại tạo ra rất nhiều lợi ích khác cho xã hội như cải thiện khí hậu. (2) QTT < QXH (sản lượng thị trường dưới mức sản lượng xã hội) PTT < PXH (giá cả thị trường thấp hơn giá cả xã hội) (3) Vấn đề là cần phải đảm bảo hiệu quả chung cho xã hội (E’) chứ không chỉ nhằm mang lại hiệu quả riêng của thị trường (E). Đường lợi ích xã hội biên MSB được tính bằng tổng lợi ích biên của ngành lâm nghiệp với lợi ích từ ngoại tác tại mỗi mức sản lượng: MSB = D + MEB. giảm hạn hán. tuy vậy. lũ lụt.v. bảo vệ lưu vực sông. làm tăng thu nhập của nông dân. bảo vệ đa dạng sinh học… v. hạn chế xói mòn rửa trôi đất.

Bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới.5 tỷ đồng để xây dựng đường giao thông phía bắc thị xã.hội mong muốn. giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Công ty và người trồng mía. hệ thống giao thông. sửa chữa đường Trà Bồng. xóa dần cái nghèo. Quảng Ngãi có 250. Công ty còn xây dựng 2 trạm điện hạ thế cho vùng mía. đi lại đầy đủ. Công ty đã xây dựng 3 trường học cho học sinh ở các xã vùng nguyên liệu mía. đến nay Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi đã có 4000 lao động (trong đó có hơn 3. làm cho cây mía cung cấp cho Công ty Đường Quảng Ngãi đã thật sự là ‘mía ngọt’ chứ không phải là ‘mía đắng’ như ở nhiều nơi khác Nhờ chăm lo tốt cho vùng nguyên liệu. Riêng năm 2005 đạt mức 1. Công ty còn phụng dưỡng 40 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. nhưng trồng phân tán. xây dựng hơn 800 km đường giao thông liên thôn. đường đi Thạch Nham. Mỗi năm Công ty đầu tư từ 40 đến 50 tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng nguyên liệu mía. Nay Công ty đã quy hoạch thành các vùng chuyên canh trong Tỉnh. Ngoại tác tích cực: Từ một nhà máy có vài trăm công nhân.. xây cầu Bà Lãnh.. chính sách khuyến khích. Cùng với việc đầu tư cho vùng mía. 2.9 triệu đồng/người/ tháng. nước ở vùng hạ lưu sông Trà Khúc có màu đục. tặng 150 sổ tiết kiệm (mỗi sổ trị giá 1 triệu đồng) cho các đối tượng chính sách. manh mún. cũng là nhằm giúp bà con xóa vĩnh viễn cái đói.000 lao động chính.5-1. rất chặt chẽ. mặc dù phải vay vốn ngân hàng. đường xương cá vào các vùng mía. có phương tiện sinh hoạt.7 triệu đồng/người/ tháng. B. NHÀ MÁY ĐƯỜNG QUÃNG NGÃI 1. nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho bà con trong việc vận chuyển nguyên liệu mía về các nhà máy sản xuất đường của Công ty. . Điều đó. Công ty đã thành lập một Trung tâm Giống mía để cung cấp giống mía có trữ lượng đường cao. với mức thu nhập ổn định từ 1. giảm tối đa chi phí cho người trồng mía. gây tổn thất kinh tế do thị trường sản xuất dưới mức hiệu quả chung của xã hội tương ứng dt(EBE’). thủy lợi trong vùng nguyên liệu mía được Công ty rất chú trọng. Trước kia. Hầu hết người dân trong vùng trồng mía đều đã xây dựng nhà kiên cố. Ngoại tác tiêu cực: a) Vào tháng 5-2010. nhưng Công ty đã ứng vốn hàng chục triệu đồng cho mỗi hộ nông dân mà không hề lấy lãi để họ có vốn trồng mía làm nguyên liệu cho nhà máy. nên Công ty đã nâng cao được diện tích trồng mía và thu nhập của người nông dân. đóng góp gần 2. đó là chưa kể vùng nguyên liệu ở Gia Lai. Đặc biệt. trong đó có hơn 500 người thuộc diện chính sách: thương binh. góp phần cải thiện đời sống cho người nông dân.Nguyên nhân là do nhà máy cồn rượu của Công ty cổ phần đường Quảng Ngãi đã thải trực tiếp . phù hợp với điều kiện thiên nhiên mưa nhiều bão lớn. còn lại là hợp đồng thời vụ). sủi bọt và bốc mùi chua như hèm rượu và số lượng cá chết ước lượng khoảng hai tấn. con liệt sĩ. hỗ trợ. đồng thời hướng dẫn những kỹ thuật trồng mới và chăm sóc mía cho người nông dân. Công ty còn ra các quy định về giá mua mía. nay là thành phố Quảng Ngãi. bộ đội phục viên chuyển ngành. Kon Tum.000 lao động trồng mía cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đường. Trong thời kỳ đầu tư mở rộng.

các địa phương này còn có trên 10. Khi kiểm tra. ngoài 188 hộ làm nghề đánh bắt thủy sản ở các xã Tịnh Khê. tổng dung tích của bồn dầu này lại được báo cáo chứa khoảng 20 đến 24 m3. Ước tính tổng thiệt hại cho ba địa phương TP Quảng Ngãi. trên 25 ha nuôi tôm của 84 hộ dân ở vùng hạ lưu sông Trà Khúc bị chết hàng loạt.8 mg/l.2 . Vụ việc xảy ra vào chiều ngày 19-4-2011 và đến cuối giờ chiều 204-2011. Tịnh Kỳ và thị trấn Sơn Tịnh (huyện Sơn Tịnh) bị ảnh hưởng do nguồn thủy sản trên sông Trà Khúc cạn kiệt do ô nhiễm. Lãnh đạo Công ty Đường Quảng Ngãi báo cáo 14. huyện Sơn Tịnh và Tư Nghĩa khoảng 4. chuyện này vẫn chưa được xử lý dứt điểm gây ô nhiễm nghiêm trọng. có thể lượng dầu FO thất thoát nhiều hơn so với báo cáo của công ty. Tịnh An. rỗng đường kính khoảng 30cm. Sông Trà Khúc (Quảng Ngãi) một lần nữa lại bị bức tử bởi Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi. Giải pháp khắc phục tác động ngoại vi tiêu cực của Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi: b) Tính phi hiệu quả của phát sinh từ các ngoại ứng tiêu cực có thể được khắc phục thông qua các giải pháp sau: − Nhóm giải pháp tư nhân: thương lượng giữa các bên chịu ảnh hưởng. chiều sâu 4 . Trong khi đó. Hiện nguyên nhân và thiệt hại vẫn đang được làm rõ. Tình trạng của hồ chứa hèm thải đã phát hiện phía bờ sông Trà Khúc có một lỗ bục.000 con vịt bị chết sau khi ăn cá chết trên sông. Như vậy. Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi đã chôn nhiều ống ngầm dẫn nước thải ra sông.5m đã gây xả thải trực tiếp ra sông Trà Khúc với khoảng 1. Trong khi đó theo quy định QCVN 08/BTNMT về chất lượng nước mặt. khiếu kiện đòi bồi thường cho những thiệt hại mà mình phải gánh chịu.000m3 hèm chưa qua xử lý. Chi cục Bảo vệ môi trường Quảng Ngãi báo cáo: Qua việc lấy mẫu nước bị ô nhiễm tại đoạn sông cá chết dày đặc đã phân tích nhanh cho thấy chỉ số dao động của DO từ 2.6 tỉ đồng. Tịnh Long. Hàng trăm hộ gia đình sống bằng nghề chài lưới trên sông Trà Khúc lâm vào cảnh khó khăn do nguồn lợi thủy sản bị hủy diệt. … . nguyên nhân cá chết nổi dày đặc trên sông Trà Khúc là do nguồn nước thải từ nhà máy làm ô nhiễm nguồn nước trên sông và không có lượng ôxy hòa tan cần thiết để duy trì sự sống cho cá… Theo báo cáo của UBND huyện Sơn Tịnh và TP Quảng Ngãi. 3.nơi Công ty cổ phần đường Quảng Ngãi trực tiếp xả nước thải ra sông chỉ số DO đo được rất thấp có dao động từ 1. cột A2 để bảo tồn động thực vật thủy sinh DO phải bảo đảm >5mg/l.9 . lực lượng chức năng cũng đã phát hiện phía bờ sông Trà Khúc.9mg/l.nguồn nước cực độc chưa qua xử lý ra sông Trà Khúc. Đoạn sông Trà Khúc . Nhận định của các cơ quan chức năng.2.3. Gây ảnh hưởng trực tiêp cho 422 hộ dân vùng hạ lưu ven sông Trà Khúc.5 tấn dầu FO thất thoát từ bồn chứa dầu tại nhà máy đường Quảng Phú ra môi trường.

a) Giải pháp từ phía nhà máy: Tại cuộc họp ngày 8/5/2010 ông Lê Văn Quang. Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi xác nhận.… Trong đó tiêu chuẩn và phí xả thải là biện pháp thường được tiến hành và có thể nói là hiệu quả hơn cả. Trước những chứng cứ mà các cơ quan chức năng đưa ra. Bên cạnh đó các lãnh đạo của công ty vẫn hoàn toàn chưa chịu trách nhiệm mà còn phó thác trách nhiệm cho cấp dưới. Đại diện công ty cũng đã làm việc với lãnh đạo UBND xã Tịnh Khê để thỏa thuận hỗ trợ khó khăn cho người dân vùng bị ảnh hưởng theo hướng “an sinh xã hội”. Gần đây nhất. phí xả thải. trong đó 2. Giám đốc nhà máy. Ngày 18/5. 1. Trên thực tế khi Sở Tài nguyên môi trường đi vào lấy mẫu nước sông Trà Khúc xét nghiệm và công bố nhà máy thải ra sông trên 22. tháng 4/2011 Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi tiếp tục làm tràn dầu FO bắt nguồn từ ống xả thải của nhà máy. Điều này cũng đồng nghĩa là chất thải hèm cồn rượu vẫn cứ tuồn ra môi trường. chúng tôi vẫn thành thật xin lỗi người dân vì những sự việc đáng tiếc trên”. Những chứng cứ mà cơ quan công an. tuy nhiên từ tháng 5/2009-3/2010 Nhà máy vẫn tiếp tục cho sản xuất. công an tỉnh Quảng Ngãi đang . Ông Võ Văn Nha. tái sử dụng. Phó tổng giám đốc Công ty CP Đường Quảng Ngãi cứ chối quanh và biện minh rằng công ty chỉ thải ra môi trường khoảng 3. ông Võ Thành Đàng. Giám đốc nhà máy cồn rượu thừa nhận là mặc dù tháng 5/2009. đến lúc này thì ông Võ Văn Nha. UBND tỉnh ra quyết định ngừng sản xuất của nhà máy sản xuất cồn rượu. thế nhưng sau đó công ty không những không chấp hành mà tiếp tục xả nước thải độc hại chưa qua xử lý ra sông Trà Khúc và hậu quả là nhiều loại thủy sản trên sông Trà đã bị chết”. ngày 11/5/2009. Sau đó đến tháng 9/2010 UBND tỉnh Quảng Ngãi đưa có đưa ra những biện pháp phạt hành chính nhưng công ty vẫn không hề có động thái bồi thường và nộp phạt. “Tuy nhiên. Công ty không có chủ trương xả thải chất thải ra môi trường và đã ngưng sản xuất nhà máy cồn rượu từ lâu.575 m3 chất thải độc hại từ hồ chứa hèm cồn rượu.− Nhóm giải pháp từ phía chính phủ: áp dụng chuẩn thải. cơ quan chức năng đưa ra chưa thuyết phục. Tuy nhiên sau đó ông này phát biểu: “Việc xả chất thải của nhà máy có ảnh hưởng đến nguồn thủy sản trên sông Trà Khúc nhưng chỉ một phần. ban đầu phủ nhận hành vi xả thải ra môi trường chưa qua xử lý.000m3 nước thải. Trong khi đó nhà máy đang dự kiến sẽ dời nhà máy từ khu công nghiệp Quảng Phú lên khu công nghiệp Phổ Phong nhưng bị người dân kịch liệt phản đối. Việc nhà máy xả thải chủ yếu là dựa vào những lúc mực nước sông Trà Khúc dâng cao vào mùa mưa lũ. nhưng chính quyền địa phương và người dân không chịu. UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ra quyết định xử phạt hành chính Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi vì hành vi gây ô nhiễm môi trường. Hàng ngàn mét khối nước thải độc hại trong hồ chứa hèm cồn rượu đã bốc hơi chứ không phải nhà máy xả thải toàn bộ. Trước đó.000 m3 là do bị bục hồ chứa hèm cồn rượu. giấy phép xả thải chuyển nhượng được. Đến nay. doanh nghiệp đã tiếp nhận đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại từ người dân xã Tịnh Khê.000m3 do xúc rửa nhà máy cồn.

Trong khi đó việc xả thải hèm cồn rượu ra sông đến nay nhà máy vẫn chưa đền bù thiệt hại cho người dân. Phí xả thải t sẽ tạo ra hành vi hiệu quả của hãng. Theo như phía công ty cung cấp nguyên nhân là do trong khi tháo dỡ Nhà máy Đường Quảng Phú để chuyển địa điểm. Các hãng sẽ thấy có lợi khi gia nhập ngành nếu giá sản phẩm lớn hơn chi phí sản xuất trung bình cộng thêm chi phí giảm thải – đó chính là điều kiện hiệu quả đối với ngành. Đường MAC dốc xuống vì chi phí biên của việc giảm thải thấp khi mức giảm nhỏ. Chi phí giảm thải tăng lên sẽ làm cho đường chi phí trung bình của hãng tăng lên. Mức thải hiệu quả là E*. Khi đó. lưu ý rằng từ đơn vị giảm thải thứ nhất (E0 – 1) có thể giảm với chi phí rất thấp. Đường MAC là chi phí biên của việc giảm thải. Hãng chấp hành chuẩn thải bằng việc lắp đặt thiết bị giảm thải. Vì thế hãng sẽ giảm lượng xả thải để tránh trả mức phí t một đơn vị cho đến khi chi phí để giảm thải thêm một đơn vị bằng với mức phí t. thậm chí là truy cứu trách nhiệm hình sự. nếu không có ràng buộc gì thì lượng xả thải tự nhiên là E0. Đường MSC .chi phí xã hội của việc xả thải. Với mức phí này. hãng tối thiểu hóa chi phí bằng việc giảm thải từ Q1 xuống Q* đơn vị. hãng sẽ chấp nhận trả phí thay vì tiếp tục giảm thải vì lúc này chi phí giảm thải biên đã lớn hơn mức phí mà chính phủ quy định. Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi cho biết).tiếp tục làm rõ nguyên nhân. van xả đáy của bồn chứa dầu đen đã bị mất khiến dầu chảy tràn ra môi trường (ông Cao Minh Tuấn. Hãng có thể giảm lượng xả thải. biểu thị thiệt hại tăng lên khi mức xả thải của nhà máy tăng. Sự việc này càng làm tăng thêm tính nghiêm trọng của việc ô nhiễm sông Trà Khúc. b) Giải pháp và sự can thiệp của chính quyền địa phương: Hãy xem xét việc xả chất thải chưa qua xử lý trực tiếp ra sông của các nhà máy. Hãng xả ra chất thải gây tổn hại cho môi trường xung quanh. ở đó chi phí xã hội biên của việc xả thải bằng với chi phí biên của việc giảm thải. Chuẩn thải đảm bảo rằng hãng sản xuất hiệu quả. Chuẩn thải Chuẩn thải là giới hạn hợp pháp về mức thải mà hãng được phép xả ra. xí nghiệp. Phí xả thải Phí xả thải là mức phí sẽ thu trên mỗi đơn vị chất thải mà hãng xả ra. Để thấy tại sao. và cao khi mức giảm là đáng kể. Khi có ý định di rời nhà máy sang khu công nghiệp Phổ Phong và không được đồng thuận nhà máy đang có kế hoạch dời lên Gia lai với lý do nguồn nguyên liệu mía ở Quảng Ngãi đang dần thu hẹp . Nó cho biết chi phí tăng thêm đối với hãng khi phải lắp đặt thiết bị kiểm soát ô nhiễm. dốc lên. Tại E* tổng chi phí giảm thải của hãng và chi phí xã hội là tối thiểu. Nếu hãng xả quá giới hạn thì nó có thể bị phạt tiền . . nhưng phải tốn chi phí. Tổng phí mà hãng phải trả là diện tích hình chữ nhật T.

huyện Sơn Tịnh và Tư Nghĩa khoảng 4. Ngoài ra UBND tỉnh cũng ra quyết định truy thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của Nhà máy cồn rượu với số tiền trên 270 triệu đồng.detail.asp?ID=22 http://phapluattp.6 tỉ đồng. Lý do truy thu là từ tháng 5-2009 đến ngày 4-4-2010.575 m3chất thải. Nguyễn Thuấn.moitruong. Nhà xuất bản thống kê. Ước tổng thiệt hại cho ba địa phương TP Quảng Ngãi. TÀI LIỆU THAM KHẢO http://www. nhà máy này xả thải hơn 20.qns.com. 2005 .vn/news.575 m 3 hèm thải ra sông Trà Khúc chưa qua xử lý gây ô nhiễm.com. Nhưng từ tháng 5/2009 đến tháng 4/2010 khi người dân đem đơn kiện nhà máy mía đường lúc này sự việc mới có sự can thiệp mạnh mẽ của các cơ quan chức năng.vn/20110422123956523p0c1015/song-tra-khuc-o-nhiem-nang-do145-tan-dau-tran. cho đến tháng 5/2010 khi đo lường mức thiệt hại của người dân và gửi mẫu nước xét nghiệm mức thải lên tới trên 22. Ban đầu các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ngãi chỉ đưa ra con số xả thải của nhà máy cồn rượu khoảng hơn 3000 m3 chất thải hèm cồn rượu. Ngày 22-9. Tổng số tiền mà UBND tỉnh Quảng Ngãi xử phạt đối với Nhà máy cồn rượu là 150 triệu đồng do xả nước thải gây ô nhiễm trên sông Trà Khúc. Kinh tế công cộng.vn/Home/Default.MSC $/đơn vị thải Tiêu chuẩn Lệ phí t T MAC Q E* E0 Tháng 5/2009 khi phát hiện việc xả thải của nhà máy mía đường Quảng Ngãi UBND tỉnh Quảng Ngãi đã đưa ra mức phạt phí môi trường và yêu cầu công ty ngừng sản xuất. Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Xuân Huế đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường đối với Nhà máy cồn rượu thuộc Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi.aspx? portalid=33&tabid=19&distid=2322 TS. đồng thời bồi thường thiệt hại cho 422 hộ dân vùng hạ lưu ven sông Trà Khúc.htm http://www.

1999.. Nhà xuất bản thống kê.Pindyck. và Rubinfeld. Robert S. Daniel L. Kinh tế học vi mô. .

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful