Kỳ 2: Thực trạng nợ công tại Việt Nam Viettinnhanh - Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008

), nợ công và khủng hoảng nợ công hiện nay không chỉ là nỗi lo lắng của chính phủ mà còn là sự quan tâm của cả cộng đồng.

Lạm bàn về vấn đề nợ công của Việt Nam

Zimbabwe - quốc gia có tỷ lệ lạm phát khủng khiếp nhất hiện nay cũng chính là nước có tỷ lệ nợ công trên GDP cao nhất thế giới. Mối liên kết giữa các thành viên trong EU đang bị đe đe dọa bởi khủng hoảng nợ công. Tháng 4/2011, nội các của Chính phủ Mỹ bất đồng vì nợ công.

Tại Việt Nam, theo World Factbook của CIA (Central Intelligence Agency), tỷ lệ nợ công so với GDP năm 2009 là 52,30% và Việt Nam hiện đang xếp thứ 44 trong 129 quốc gia về nợ công. Theo công bố của Tạp chí Kinh tế The Economist, tỷ lệ nợ công năm 2010 của Việt Nam là 50,935 tỷ USD (tương đương 51,6% GDP). Mặc dù tỷ lệ nợ này vẫn nằm trong tầm kiểm soát (dưới 50%/GDP) nhưng nó quá cao so với mức phổ biến ở các nền kinh tế đang phát triển (từ 30-40%) và với thực trạng nợ công của một số nền kinh tế mới nổi

6% GDP nợ công đã có 42. 2. 4.3% nợ công là ODA và 29. 1.064 USD (Thái Lan) thì đây là con số không cao. cũng theo The Economist.91 USD. Ngoài ra. nợ nước ngoài có vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng cao nhất. Cơ cấu nợ công của Việt Nam. Mặc dù nợ công khác với nợ nước ngoài.2% GDP là nợ nước ngoài (biểu đồ 2). nhưng hiện nay ở Việt Nam. do vậy. thì chắc chắn con số này sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới. thông tin chi tiết về nợ công chưa đầy đủ. Với thực trạng tỷ lệ tiết kiệm nội địa khoảng 27% GDP trong khi mức đầu tư toàn xã hội mỗi năm khoảng 42% GDP tại Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên.8% được tài trợ từ trái phiếu trong nước. Năm 2010.6 USD (Trung Quốc). tuy nhiên. (Nguồn: Bộ Tài chính). trong 56. con số này đã tăng gấp 5 lần. tỷ trọng nợ nước ngoài cao tăng nguy cơ rủi ro về cơ cấu nợ trong tương lai.như Trung Quốc (17. 60. Các điều khoản ưu đãi của ODA đã giúp Việt Nam giảm bớt được áp lực nợ công. Indonesia (26. Nếu so sánh với 713. Nguồn cung cấp nợ nước ngoài chủ yếu của Việt Nam là các khoản vay ODA.5%). Trong cơ cấu nợ công Việt Nam.071 USD (Philippines).4%). Theo danh mục nợ công năm 2009 của Bộ Tài chính (BTC). mức nợ công tính trên đầu người của Việt Nam năm 2010 là 580. Kinh . các nhà kinh tế thường sử dụng chỉ số nợ nước ngoài để hình dung quy mô và mức độ nghiêm trọng của nợ công của quốc gia. 743 USD (Indonesia). thì trong vòng 10 năm.184 USD (Malaysia). nếu so mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam vào năm 2001 xấp xỉ 112 USD.

99% (tăng 176 triệu USD so với 2009) và có tới 1. Con số tương tự của năm 2010 lần lượt là 56. mặc dù có mức nợ công trên GDP cao nhưng Nhật Bản vẫn được đánh giá là bền vững do nợ công chủ yếu được tài trợ từ các nhà đầu tư trong nước.5. nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến về tiền tệ trên thế giới thì quản lý nợ công thế nào cho hiệu quả là vấn đề đáng quan tâm hàng đầu tại Việt Nam hiện nay.8%. Theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại. Chính phủ mất đi tính chủ động khi ứng phó với các biến động kinh tế thế giới và khó kiểm soát các món nợ vay phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái và tâm lý của nhà đầu tư quốc tế. Ngoài ra. nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. 44. có 19. Nợ nước ngoài của Việt Nam khá đa dạng về cơ cấu tiền vay. và JPY đang lên giá so với USD. Tỷ lệ nợ công năm 2009 Việt Nam là 52.66 triệu USD so với 2009.3%. điều này được cho là có thể hạn chế rủi ro về tỷ giá.6%/GDP.95%) và JPY (38.99%.99%. tăng hơn gấp đôi so với 2009. Khủng hoảng nợ Argentina (2001) và sự bất ổn của Hy Lạp hiện nay là minh chứng điển hình cho tác động tiêu cực của nguồn nợ công từ nước ngoài. Các khoản vay nước ngoài của Việt Nam đa số đều có lãi suất thấp. Trường hợp ngược lại là Nhật.10%. nợ Chính phủ bảo lãnh là 9. Trong 25. khi tỷ trọng nợ nước ngoài quá cao. Theo Luật Quản lý nợ công Việt Nam 2009. nợ chính quyền địa phương là 0.2. Như vậy.94%. gây thêm áp lực nợ cho Chính phủ.1%/năm.678 tỷ USD chịu lãi suất từ 3 .6%. do vậy. lãi suất trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ đã tăng từ 1. Tỷ trọng cao của các khoản vay bằng USD (22. Với thực trạng này. năm 2010. . nợ công bao gồm nợ Chính phủ.36% và 0. các khoản vay với lãi suất thả nổi cũng tăng 6. các khoản vay của Việt Nam có lãi suất cao hơn và khoản vay với lãi suất thả nổi đang ngày càng tăng lên. Tuy nhiên. giảm áp lực lên nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ.25%) (biểu đồ 3) gây nguy cơ gia tăng khoản chi gốc và lãi khi tỷ giá USD/VND luôn có xu hướng tăng.9%/năm trong năm 2009 và năm 2010 đạt tới 2. Tuy nhiên so với các năm trước.8%. nợ Chính phủ là 41. nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ công của Việt Nam.2.097 tỷ USD tổng nợ nước ngoài của Chính phủ. rõ ràng chi phí trả lãi đang trở thành gánh nặng ngày càng gia tăng của Chính phủ. Với cách tính này. trong tình trạng lạm phát toàn cầu đang gia tăng.nghiệm từ các cuộc khủng hoảng nợ trong lịch sử cho thấy. trong đó chủ yếu là ở mức 1% .888 tỷ USD ở mức lãi suất 6. 11.313 tỷ USD có lãi suất từ 1 .54%/năm vào năm 2006 lên 1. trên 1. Trên lý thuyết.9%. mặc dù mức nợ công so với GDP của Việt Nam vẫn được đánh giá là an toàn nhưng cơ cấu nợ công đang ẩn chứa nhiều rủi ro. trên thực tế cơ cấu này cũng tiềm ẩn những rủi ro khi có biến động trên thị trường tài chính thế giới.

áp lực chi phí ngân sách lớn dẫn đến thâm hụt ngân sách cả trong và ngoài dự toán ngày càng gia tăng (từ 2. nợ xấu.6% GDP. đối với nợ công Việt Nam sẽ có những rủi ro tiềm ẩn sau: Thứ nhất. Thứ ba. Đó là ý kiến của TS Lê Xuân Nghĩa – Phó chủ tịch.6% GDP. xấp xỉ 39 tỷ USD.9% GDP. Còn trong thực tế.2 đã tăng lên 8 vào năm 2009 cho thấy hiệu quả thấp trong việc sử dụng nguồn lực. chỉ số ICOR – đo lường hiệu quả đầu tư càng cao thì hiệu quả dầu tư của nền kinh tế càng thấp. trong đó nợ Chính phủ chiếm 41. Thứ hai. do điều chỉnh tăng bội chi ngân sách lên trên 5% GDP (năm 2009 là 6. sự lãng phí và quản lý chưa chặt chẽ trong đầu tư cũng như khả năng cạnh tranh thấp của nền kinh tế.8% GDP năm 2001 lên tới 9% GDP năm 2009) vượt qua mức 5% theo thông lệ quốc tế cũng gây áp lực lên chính sách tài khóa và nghĩa vụ trả nợ trong tương lai. Tính đến 31/12/2009. biến động bất ngờ…). rủi ro lãi suất và hối đoái cũng ảnh hưởng đến nền tảng tài chính và thanh khoản của hệ thống ngân hàng.9% GDP và năm 2010 là 6. khoảng hoảng. mất khả năng thanh toán và chính phủ phải vay nợ để tài trợ cho các tập đoàn này nhằm tái cơ cấu tài chính. nợ nước ngoài cao (chiếm 58. Theo ông. Thứ năm.Mặc dù nhiều ý kiến cho rằng nợ Chính phủ vẫn nằm trong ngưỡng an toàn (dưới 50% GDP) và nghĩa vụ trả nợ Chính phủ so với thu ngân sách Nhà nước vẫn nằm trong giới hạn cho phép (15. nợ công có thể gia tăng nhanh chóng và đột biến trong thời gian ngắn nếu một số các tập đoàn kinh tế đổ bể.8%/thu ngân sách Nhà nước so với quy định 30% theo thông lệ quốc tế). tình trạng bong bong bất động sản. Hệ số ICOR năm 1991 là 3. Dự tính đến cuối năm 2010 nợ Chính phủ sẽ chiếm 44. chưa kể các khoản vay ODA này sẽ giảm dần trong tương lai. Cũng theo ông Nghĩa. việc xác định “ngưỡng an toàn” chỉ là khái niệm tương đối. Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia tại Hội thảo Tổ chức kiểm toán đối với việc quản lí và sử dụng các khoản nợ công do Kiểm toán Nhà nước tổ chức ngày 10/12. mạng nặng tính thống kê.2% GDP). Ông Nghĩa dẫn chứng tới việc tái cơ cấu tập đoàn Vinashin. tuy nhiên xu hướng gia tăng nợ công qua các năm cũng thể hiện một số bất ổn cần lưu ý. tính bền vững trong phát triển. Trong trường hợp các ngân hàng thương mại gặp khó khăn về thanh . khả năng chống đỡ rủi ro. việc nợ công của các quốc gia có thực sự ở trong “ngưỡng an toàn” còn phải xem xét trên nhiều khía cạnh như tốc độ tăng trưởng.8% trong nợ Chính phủ) trong đó phần lớn các khoản nợ nước ngoài là vay ODA (85%) ngoài việc làm tăng chi phí đầu vào của khoản vay thì làm tăng nguy cơ rủi ro về cơ cấu nợ. nợ công chiếm 52. Thứ tư.

minh bạch và có lộ trình trả nợ. Kiểm toán Nhà nước với tư cách là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập. lãng phí lớn vốn nhà nước nhưng hiệu quả đầu tư thu được thấp. đầu tư không ngừng mở rộng kéo theo lạm phát và lãi suất tăng cao khiến cho việc tài trợ nợ công ngày càng trở nên đắt đỏ.Thái Bình Dương Hà Nội nhận định: “Nợ công ở Việt Nam có khá nhiều vấn đề đáng lo ngại. "Hiệu quả sử dụng các khoản vay là một vấn đề rất quan trọng vì từ đó mới bảo đảm được dòng tiền trả nợ trong tương lai. 1. bán cho được trái phiếu. sẽ dẫn tới tình trạng nợ nần chồng chất và thế hệ mai sau phải gánh trách nhiệm trả nợ. nợ công mới có thể phục vụ cho việc phát triển đất nước. sự hồi phụchiện nay của kinh tế thế giới rất mong manh. sử dụng ngân sách. tiền vay phải được quản lý chặt chẽ theo các nguyên tắc của Luật quản lý nợ công một cách công khai. Tình hình nợ công thế giới Kinh tế thế giới vừa trải qua cơn bão khủng hoảng dữ dội nhất kể từ saucuộc đại suy thoái 1929-1933 và đang chật vật hồi phục. những “căn bệnh” kinh niên của các dự án đầu tư công không giảm sút mà còn có chiều hướng tăng mạnh . Đồng quan điểm với ông Nghĩa. sử dụng ngân sách. Như vậy.Tiến sỹ Lê Sa bình luận. thất thoát. Nhưng đó cũng là một cơ hội để minh bạch các chi tiêu và nợ nần của Chính phủ. Nếu không. Còn theo nhiều đánh giá. Vì thế. đang và sẽ là vấn đề của nền kinh tế toàn cầu nói chung và của nền kinh tế VIệt Nam nói riêng. tiền và tài sản nhà nước đối với mọi cơ quan. các khoản đầu tư của Nhà nước vẫn bị coi là dàn trải. thực hiện kiểm tra việc quản lý.Trung tâm Châu Á . thu tiền về đã được xem là thành công. việc kiểm tra của kiểm toán Nhà nước đối với việc quản lý và sử dụng các khoản nợ công là cần thiết. Từ đó.khoản cần được tài trợ từ ngân sách cũng có thể làm bội chi và nợ công tăng đột ngột. Vì vậy. Nợ công ở Việt Nam đang tăng nhanh trong khi thâm hụt ngân sách đã trở thành căn bệnh "kinh niên". Việt Nam dường như mới chú trọng đến khía cạnh giải ngân cho các khoản vay. chậm tiến độ. đảm bảo tính minh bạch trong quản lý và sử dụng các khoản nợ công cũng như tính bền vững của ngân sách nhà nước. không thể để tình trạng nợ công không ai biết rõ như trước được nữa. Thế nhưng. tạo lòng tin của người dân đối với chính phủ. Nợ công đã. TS Lê Sa . NHÓM 01-LỚP EC003_1_102_T02 PHẦN 2: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-20102. tạo động lực cho quá trình phát triển của đất nước. bấp bênh và không loại trừ khảnăng có thể bị . Hiện nay. tổ chức quản lý.

mà cả những nước phát triển giàu có cũng mắcnợ.9% vàmức thâm hụt ngân sách năm 2010 dự kiến là 6. Ai-xơl e n cũng đang lâm tình cảnh nợ nần bi đát.t h ậ m c h í c ó n ư ớ c c ò n l ớ n h ơ n G D P v à t h â m h ụ t n g â n s á c h v ư ợ t x a m ứ c q u y định (3%) của EU. chiếm hơn 10% GDP trong năm 2010. chiếm khoảng 93% GDP. Mức thâm hụt ngân sách củaMỹ năm 2010 dự kiến là 9.suy thoái trở lại bởi nhiều nguyên nhân. Mức độ tín nhiệm tài chính của nước này đã bị tụt xuốnghạng BBB-.Kể cả Nhật Bản. nền k i n h t ế m ạ n h n h ấ t c h â u  u . Tình trạng nợ công chồngchất không chỉ là hiện tượng đơn lẻ diễn ra ở Hy Lạp hay Băng Đảo và Đu-baigần đây. Hy Lạp sẽ trở thành nước bị vỡ nợ.000 tỷ USD. Một số nước như Tây Ban Nha. song cũngk h ô n g p h ả i l à k h ô n g m ắ c n ợ . mà đã trở thành hiện tượng khá phổ biến trên thế giới. h ầ u hết các nước đều đang trong tìnhtrạng nợ nần.3%). Hy Lạp là nước có mức nợ công thuộc loại nhiều nhất tạichâu Âu so với quy mô nền kinh tế và được ví như “một người bệnh đang trongthời kỳ nguy kịch”. và như vậy. nơi mà núi nợ đang đè lên lưng nước này.68 nghìn tỷUSD) từ năm 2004 cho tới cuối năm 2009 và Trung Quốc có thể sẽ phải đối mặtvới thâm hụt ngân sách khổng lồ.Hiện nay. Bồ Đào Nha. T h e o G i á o s ư V i c t o r S h i h t ừ t r ư ờ n g Đ ạ i h ọ c Northwestern của Mỹ.6 % và dự kiến còn tiếp tục với mức 7. t r o n g k h i t ă n g t r ư ở n g k i n h t ế t i ế p t ụ c k h ó k h ă n (-2. trong đó tình trạng nợ công tràn lan ở nhiều nước là một nguyên nhân quan trọng.giống như Hy Lạp. c ũ n g đ ẫ m m ì n h trong nợ với mức 84.T r o n g n h ữ n g n ă m g ầ n đ â y . Mỹ là con nợ lớn thuộc loại hàng đầu thế giới với tổng số nợ lên tới 13. Nếu không trả được. trong khi triển vọng tăng trưởng kinh tế rất ảm đạm.9%. 6 % n ă m 2 0 1 0 .6 % GDP. Băng Đảo. Tỷ lệ nợ so với GDP năm 2009 lên tới 88. trong khi tăng trưởng kinh tếtiếp tục âm. v ậ y m à b â y g i ờ c ũ n g t r ở t h à n h m ộ t c o n n ợ “ c ỡ b ự ” v ớ i m ứ c n ợ t ư ơ n g đương với 227% GDP và thâm hụt ngân sách dự kiến 10. các chính quyền địa p h ư ơ n g c ủ a T r u n g Q u ố c đ ã v a y mượn tổng cộng trên 11 nghìn tỷ nhân dân tệ (tương đương với 1.Ấn Độ. Tình hình của Italy lại còn đáng buồn hơn với mức nợ công lên tới 120 % GDP năm 2009 và dự kiến thâm hụtn g â n s á c h 5 . s ự q u a n t â m c ủ a t h ế g i ớ i đ a n g đ ổ v à o H y Lạp. Ngay cả Đức. Không riêng cácnước đang phát triển mới đi vay.2 % năm 2010. một nền kinh tế lớn đang lên ở châu Á cũng đang đối mặt vớitình trạng nợ công nặng nề.8%. tương đương với 82.1% năm 2010. . Các nước này đều có tỷ lệ nợ gần ngang. mức thâm hụt ngân sách 7.Rồi đến Trung Quốc. Hiện nay. các chủ nợ sẽtìm cách siết nợ. Nó đã đẩy nền kinh tế nước nàyvào nguy cơ sụp đổ với tổng số nợ công lên tới 300 tỷ Euro (chiếm 124% GDPnăm 2009) và mức thâm hụt ngân sách hai con số. Điều này báo hiệu núi nợ của Mỹ sẽ tăng lên tớimức xấp xỉ 100% GDP vào cuối năm nay.T r o n g l i ê n m i n h c h â u  u ( E U ) . đã từng có thời người ta tưởng có thể sẽ “mua hết nướcM ỹ ” . Hiện Ấn Độ bị xếp hạng tíndụng quốc gia BBB. Nợ công của Pháp cuối năm 2009 đã lên xấp xỉ1500 tỷ Euro.5% GDP. Điều này đồng nghĩa với khả năng đi vay tiền từ bên ngoài trở nênkhó khăn. nền kinh tế nước này sẽ rơi vào khủng hoảng khimà các nhà đầu tư tìm cách tháo chạy khỏi Hy Lạp. nước hiện được coi là chủ nợ nước ngoài lớn củaMỹ và nhiều nước khác với nguồn dự trữ quốc gia trên 2000 tỷ USD.

Ủy ban Pháp luật Quốc hội công bố khoản nợ công tại Việt Nam vàok h o ả n g 4 2 % G D P .9% năm 2009 và lên 44.2. châu Âu tới châu Á đều đang đối đầu với bài toán nợ công và Việt Nam cũngk h ô n g n ằ m n g o à i v ò n g x o á y đ ó . tới 20% (4. tình trạng nợ công liên tục tăng làm cho yêu cầu nângc a o c h ấ t l ư ợ n g q u ả n l ý n ợ c ô n g c ủ a V i ệ t N a m c ũ n g t r ở n ê n c ấ p t h i ế t .5 triệu người) và nhất là hệ thống ngânhàng rất mong manh. nhất là những nước có nợ công lớn và thâm hụt ngân sách kinh niên.4% GDP. liên kết giữa các cơ quan quản lý vấn đề này.6% năm 2010. Còn theo Bộ Tài chính thì nợ công tại Việt Nam năm 2009 chỉ ở mức 39% GDP. không loại trừ khả năng khủng hoảng nợ xảy ra tại một trongsố mắt xích xung yếu nhất hiện nay sẽ dẫn đến một cuộc suy thoái kinh tế mớicó thể lan rộng. Trong khi đó.000 tỷ như đã báo cáo. r õ ràng. Quy mô nợ công Chấn động từ cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp đang có nguy cơ lanrộng sang một số quốc gia EU khác khiến các nước. nợ của công tycổ phần tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp của Nhà nước.8% GDP năm 2 0 0 7 l ê n 3 6 . 41.Cả thế giới đang chìm trong cơn lốc xoáy nợ công. tổng dư nợ của các tập đoàn. tương đương 51. t ừ c h â u M ỹ . T r u n g Q u ố c . quỹ bảo hiểm xã hộimà Nhà nước sử dụng để mua trái phiếu hay đầu tư vào các công trình kinh tếtrọng điểm quốc gia. nhưngđến năm 2009 đã tăng nhanh lên mức 52. Theo số liệu củaTạp chí kinh tế The Economist thì tổng nợ công của Việt Nam hiện là 50.Tình trạng nợ gia tăng đến mức không thể chấp nhận được ở nhiều nướcnhư vậy báo hiệu một triển vọng không mấy sáng sủa của kinh tế thế giới. T h e o World Factbook nợ công của Việt Nam năm 2008 là khoảng 38% GDP. tổng công ty nhàn ư ớ c đã là 20% GDP. Minh chứng điển hình là trường hợp Vinashin có tổng số dư nợ thực tế lêntới 120. Tại Việt Nam. b ở i v ớ i n g â n s á c h b ị t h â m h ụ t ngang mức 11. Đ ứ c .000 tỷ đồng chứ không phải 86. kèm theo đó là lờicảnh báo nợ Chính phủ đã tăng sát mức trần cho phép. N h ậ t B ả n . chưa kể đó là nhữngcon số thống kê chưa đầy đủ.Trườnghợp Tây Ban Nha rất đáng lo ngại và nhiều chuyên gia cảnh báo rằng Tây Ban N h a c ó t h ể s ẽ đ i t h e o c o n đ ư ờ n g c ủ a H y L ạ p . Ủ y b a n T h ư ờ n g v ụ Q u ố c h ộ i l ạ i đưa ra kếtluận rằng nợ Chính phủ đang tăng cao: từ 33.935 tỷUSD. 2 % GDP năm 2008. Tất cả các nền kinht ế l ớ n m ạ n h t r ê n t h ế g i ớ i n h ư M ỹ .nhữngcon số này trầm trọng hơn của Hy Lạp rất nhiều. T r o n g k h i đ ó . Thực trạng Việt Nam giai đoạn 2008-2010 2.Với cách tính nợ công của Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên hợpquốc (UNCTAD) được nhiều nước trên thế giới sử dụng thì nợ công còn baogồm cả nợ của doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế tự vay tự trả. thất nghiệp củaTây Ban Nha cũng rất cao. Mộtsố ý kiến cho rằng.Vậy thực trạng nợ công ở Việt Nam hiện nay liệu có an toàn? 2. Tuy mỗi con số phản ánh . g i a i đ o ạ n 2008-2010 nợ công của Việt Nam cũng đang tăng dần.3% GDP. thống kê và thiếu chặtchẽ.2. Như vậy là chỉ riêng việc tính toán nợ công cũng đã gây ra những bấtcập.6% GDP. bởi đến hết năm 2008. Mà theo vậy thì nợ côngcủa Việt Nam phải lên tới trên 72% GDP. phải đánh giá lại tình trạng tài khóacủa mình. Điều đó cho thấy sự thiếu thống nhất trong đánh giá.7% GDP. tổng nợ công và tư tương đương 300% GDP . T r o n g s u ố t n h ữ n g n ă m g ầ n đ â y . Và trong năm 2010 thì nợ công đã lên tới 56.1.

Trong khi đó. Biểu đồ 1: Nợ công và cán cân ngân sách của Việt Nam (2007-2010)(số liệu 2010 là ước tính) Nợ công của Việt Nam tăng nhanh trong bối cảnh thâm hụt ngân sách(cả trong và ngoài dự toán) tăng từ -7. chắc chắn nợ công củaViệt Nam sẽ còn tăng trong nhiều năm tới.2% GDP và dư nợ công bằng 56.3% GDP. với tỉ lệ tiết kiệm nội địachỉ khoảng 27% GDP trong khi mức đầu tư toàn xã hội mỗi năm khoảng 42%GDP thì Chính phủ sẽ phải tiếp tục đi vay rất nhiều (bên cạnh vốn đầu tư nướcngoài bù đắp khoản thiếu hụt đầu tư). Như vậy có thể thấy mỗi công dân đềucó quyền lợi và cả trách nhiệm từ các khoản vay của Nhà nước. năm 2010 dư nợ Chính phủ bằng 44. khiến tính bền vững của nợ công càng bị giảm sút.3% GDP năm 2007 lên tới 9.Xu hướng gia tăng nợ côngđ a n g ở m ứ c b á o đ ộ n g . Biểu đồ 2: Tỷ lệ dư nợ của Chính phủ từ năm 2007 đến năm 2010 Page 2 of 21 NHÓM 01-LỚP EC003_1_102_T02 B Bảng 1: Xếp hạng nợ công của một số quốc gia trên thế giới Báo cáo về ngân sách Nhà nước tính đến 31/12/2009 tổng số dư nợ công bằng 52.mộtcái nhìn khác nhau về một vấn đề được xem là “sức khỏe của một nền kinh tế”nhưng nó đều cho thấy rằng quy mô nợ công tại Việt Nam đang ngày càng lớn. dư nợ quốc gia bằng 42.6% GDP năm2009 (theo EIU). đó là nợ công ngày hôm nay phải được tài trợ bằng thặng dư ngân sách ngày mai. đầu tư lạikhông ngừng mở rộng kéo theo lạm phát và lãi suất cao khiến cho việc tài trợ nợ công ngày càng trở nên đắt đỏ.6% GDP. Cụ thể là. với nhu cầu tiếp tục đầu tư để phát triển. Mức thâm hụt đã vượt xa ngưỡng “báo động đỏ”5% theo thông lệ quốc tế. Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bảncủa quản lý nợ công bền vững.6% GDP. . Đây là nguyên nhân chính khiến Fitch giảmxếp hạng tín dụng dài hạn của Việt Nam từ BB-xuống B+ (tức là thấp hơn “mứcđầu tư” bốn bậc) vào cuối tháng 7-2010. trong khi thâm hụt ngân sách đã trở thành kinh niên.

1%.943 tỷ USD.Chỉ chú trọng nhiều đến ngưỡng nợ làm mức tỷ lệ phần trăm trong GDPtheo mục tiêu.. N ợ c ô n g c ủ a n ư ớ c t a n ă m 2 0 1 0 ở m ứ c 5 6 .2% (WB cho phép đến 25%). ○ N ợ c ủ a c h í n h q u y ề n đ ị a p h ư ơ n g t ư ơ n g đ ư ơ n g k h o ả n g 0 . So sánh trên bảng 2 thì nợ công trên đầu người của Việt Nam được xếp vào hạng thấp trongkhu vực châu Á . trong tổng số dư nợ nước ngoàiChính phủ gần 23. hơn 1. p h ê d u y ệ t h ạ n m ứ c v a y t h ư ơ n g m ạ i n ư ớ c n g o à i đ ư ợ c Chính phủ bảo lãnh năm 2010 là 1.tốc độ tăng dư nợ chính phủ bình quân hàng năm giaiđoạn 2006-2010 đ ã l à 2 4 . nếu xét theokhuyến nghị của Ngân hàng Thế giới (WB). nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trung dài hạn so với xuất khẩu hàng hóa.99%.600 triệu USD). ○ Nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP khoảng 42. Ngoài ra. Trong đó: ○ Nợ chính phủ khoảng 44.Tỷ lệ nợ công trên GDP và nợ công trên đầu người đều chỉ phán ánh mộtcách phiến diện mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công.5% GDP. ○ Nợ được chính phủ bảo lãnh khoảng 11. Khu vực có tỉ lệnợ công trên đầu người cao nhất là châu Âu và Bắc Mỹ và ở mức trung bình làkhu vực Nam Mỹ. đứng sau là Iceland và một số nước châu Âu vàmức nợ công trên đầu người ở Việt Nam chỉ là 580. ○ N g h ĩ a v ụ t r ả n ợ n ư ớ c n g o à i t r u n g d à i h ạ n s o v ớ i x u ấ t k h ẩ u khoảng 5.325 tỷ USD lãi suất từ 12. 6 % GDP. ○ Nghĩa vụ trả nợ Chính phủ so với thu ngân sách nhà n ư ớ c khoảng18.dịch vụ chỉ bằng 4. 281.Cụ thể hơn về vấn đề nợ nước ngoài. nợ nước ngoài của quốc gia so vớiGDP bằng 39%. có đến 19. chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề quan trọng hơn đó là kiểmsoát xu hướng gia tăng của tỷ lệ này.2%. nghĩa vụ trả nợ Chính phủ so với tổng thu ngân sách nhà nước 5. 3 % .91 USD/người.7 triệu USD lãi suất 0-99% và 919 triệuUSD ở mức lãi suất 6-10%. NHÓM 01-LỚP EC003_1_102_T02 Bảng 2: Nợ công tính trên đầu người của một số quốc gia ngày 12/10/2010(Thống kê dựa trên số liệu của tạp chí The Economist) Theo như bảng trên ta thấy hiện tại Nhật Bản đang là nước có số nợ côngtrên đầu người lớn nhất thế giới. 7 % GDP (GDP năm 2010 ước thực hiện là 1. thuộc diện quốc gia có nợ nước ngoài vừa phải. Bởi . theo đó trên 50% được cho là nợ quá nhiều.Xét trên phương diện nợ công trên đầu người thì nợ công ở Việt Namchưa cao và được cho là thấp trong khu vực châu Á và trên thế giới nhưng xét vềnợ công trên tổng GDP thì nợ công ở Việt Nam được đánh giá ở mức trung bình.1% (ngưỡng an toàn của WB làdưới 35%)… Không kể nợ được Chính phủ bảo lãnh. dự trữ ngoại hối so với nợ nướcngoài ngắn hạn là 290% (khuyến nghị của WB là trên 200%).951 nghìn tỷ đồng).9 tỷ USD dư nợ còn lại được áp lãisuất thả nổi theo lãi suất liên ngân hàng của thị trường London (LIBOR).5 tỷ USD lãi suất từ 3-5. trên1.khu vực có tỉ lệ nợ công trên đầu người thấp.9%.6% GDP (Quyết địnhs ố 1 0 1 6 / Q Đ T T g .99%.

nợ công trên đầungười có là cao nhất thế giới vẫn được coi là an toàn. ví như ở Hy Lạp.lẽ.nợ công khoảng 100% GDP đủ để bị phá sản thì ở Nhật Bản. 6 V i ệ t N a m 5 8 0 . 9 1 . độ an toàn của nợ công không chỉ phụ thuộc vào những con số nêu trên mà chủ yếu phụ thuộc và“sức khỏe của nền kinh tế” và khả năng trả nợ.Vậy nợ công ở Việt Nam những năm gần đây là an toàn hay nguy hiểm?Đó còn là một câu hỏi gây tranh cãi cho tất cả các nhà kinh tế học trong nước vàtrên thế giới. Page 2 of 21 Quốc giaNợ công tính trên đầungười (USD) N h ậ t B ả n 8 3 6 9 7 I c e l a n d 4 3 2 8 6 A n h 2 6 6 0 2 P h á p 3 1 7 8 5 M a l a y s i a 4 1 8 4 C a n a d a 3 7 0 0 0 M ỹ 2 7 6 8 3 T h á i L a n 2 0 6 4 P h i l i p p i n e s 1 0 7 1 I n d o n e s i a 7 4 3 T r u n g Q u ố c 7 1 3 . Do đó.

Bà Keiko Kubota. tỷ giá thay đổi.6%. thì sẽlàm nợ công tăng lên”. nợ công sovới GDP chiếm 52. nợ nước ngoài chiếm 38.9%. Mức dư nợ công năm 2010 là52. trong khi quy địnhcủa Thủ tướng về chỉ tiêu nợ Chính phủ là 50%. hay dolạm phát tăng cao. Theo bà phải đảm bảo nợ là bền vững và khoản nợ đó p h ả i l à n h m ạ n h m à ở V i ệ t N a m t h ì k h ô n g .NHÓM 01-LỚP EC003_1_102_T02 Trong cơ cấu nợ công chủ yếu là nợ dài hạn. kinh tế trưởng của Ngân hàng thế giới (WB) tại Việt Nam nhận xét: “Mặc dù mức nợ của Việt Nam nhỏ hơn ngưỡng nhưng vẫn cóthể gặp các cú sốc không lường được như GDP thấp hơn so với dự tính. Tuy nhiên. nếu phần thu còn lại sau khi trả nợ và chi thường xuyênngày càng giảm và tiếp cận đến không thì việc vay nợ đã đến ngưỡng mất antoàn.6%.8% và nợ công là 57% GDP năm 2011. Ví dụ năm 2011 bố trí 85ngàn tỷ đồng để trả nợ so với 590 ngàn tỷ thu ngân sách (tương đương 15%) thìvẫn an toàn. ông nhận định độ an toàn tài chính quốc giađang có nguy cơ vượt ngưỡng cho phép. trong đó nợ Chính phủ chiếm 41.Theo TS. các khoản dự phòng không như dự toán. Bởi tính đến 31/12/2009. Tô Văn Trường.

nhưng cũng ảnh hưởng đếnkhả năng bền vững của tài chính công về dài hạn.Tuy nhiên. mới dự đoán được tình huống nợ có thể xảy ra. phù hợp với tiềm lực của đất nước”. rủi ro đã xảy ra ảnh hưởngđến tài chính công của Argentina. một quốc gia dù có mức nợ công dưới 60% và ngân sách tài chínhkhá tốt. dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ ở nước này. Ủy ban Tài chính .Ngân sách thấy rằng. Khi đó. nhưng Việt Nam không thể chủ quan.Ông Alex Warren – Rodriguez. D o đ ó c ầ n m ở r ộ n g c á c h t h ứ c s u y n g h ĩ v à h i ể u v ề n ợ v à phân tích nợ.Bản báo cáo thẩm tra (Của ai? Viết về cái gì?) cũng chỉ ra rằng. Ví dụ việctăng thuế. giảm dần vay nợ. và Argentina cũng là nước giàu.6% GDP. có tác động tốt đến tài chính công hiện tại. Điều mấu chốtlà phải tăng cường hiệu quả đầu tư. Vay nợ nước ngoài giảm. cùng với cơ cấunợ công chủ yếu là nợ dài hạn và hiện vẫn đủ khả năng trả nợ nên nợ công củaViệt Nam nằm trong ngưỡng an toàn. Ủy ban Tài chính . nên cần thayđổi cơ cấu nguồn vốn. Nợ công và nợ tư xuất phát từ tình hình tài chính. dựa trên tình hình kinh tếV i ệ t N a m . với dự báo khả năng vềtốc độ tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách nhà nước năm 2011. Ngưỡng nợ công của Việt Nam đã hơn 50%. dư nợ quốc gia bằng 42. đảm bảo duy trì các chỉ số nợ ở trong giớihạn an toàn.2% GDP. Nợ công củaViệt Nam năm 2010 là 56. mức dư nợ chính phủ và nợ quốc gia tăng sát mức trần cho phép. như thâm hụt ngân sách dưới 3%. t h ế g i ớ i .điều hành ngân sách và đảm bảo an ninh tài chính trong năm 2010 gặp khó khăn. khi nợ quốc gia tăng sát mức an toàn. ngưỡng nợ công hơn 50% GDP của Việt nam là có thể chấpnhận được. nhưng vẫn xảy ra khủng hoảng nợ. Trường hợp của Argentina.p h ả i t ấ t c ả c á c k h o ả n n ợ đ ề u l à n h mạnh. vay nợ trong nước và nước ngoài gặp khó khănvà phải vay với lãi suất cao. các cơ quan của Chính phủ Argentina. Page 1 of 21 NHÓM 01-LỚP EC003_1_102_T02 Mặc dù vậy.Đây là những ví dụ cho ta thấy tình hình chỉ thay đổi rất nhanh”. Bởi Việt Nam chưa thể dự báo đượcnhững điều sẽ xảy ra. lạm phát thấp. xuthế được vay nợ trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi sẽ giảm dần.3% GDP.trong những năm 90 của thế kỷ trước. “Nhưng do dư nợ hiện đã ở mức cao. Dẫu các chuyên gia kinh tếquốc tế cho rằng. chuyên gia Kinh tế trưởng của Chươngt r ì n h p h á t t r i ể n l i ê n h ợ p q u ố c ( U N D P ) t ạ i V i ệ t N a m c h o r ằ n g n ế u c h ỉ v à o ngưỡng nợ công tính trên GDP là chưa đủ. vay nợ trong nước tăng.Ngân sáchcủa Quốc hội nhấn mạnh. họđưa ra chính sách tài chính công rất tốt. dư nợ chính phủ bằng 44. mọi việc đã thay đổi chỉ trong 3 – 4 năm.Các chuyên gia của WB hay IMF đều cho rằng nợ công của Việt Namvẫn là an toàn. Dẫn ví dụ từ trường hợp củaArgentina. nợ công tính trên GDP dưới 60%. mà cần phải có một “thước đo chuẩn” từ các nền kinh tếkhác có hoàn cảnh và điều kiện kinh tế tương tự. dẫn tới an ninh tài chính quốc gia đứng trước khókhăn cho các năm sau. bảo đảm trả nợ đến hạn. Thực tế cho thấy ngưỡng nợ hay quy mô nợ chỉ là điều kiện cần thiết để hạn chế các nguy cơ . chuyên gia Alex Warren – Rodriguez phân tích: “Điều quan trọng là chúng ta phải giám sát được thực trạng kinh tế vĩ mô.

Nguy cơ đã thấy rõ không giữ nổitài chính quốc gia trong ngưỡng an toàn. Như vậy 60% "nợ" được đầu tư và mang lạil ợ i n h u ậ n cho Chính phủ Mỹ. Mức thâm hụt ngân sách ở Việt Nam đã vượt xa ngưỡng "báo động đỏ" 5%. Đây là mức còn gây tranh cãi. Tất nhiên. tỷlệ chi ngân sách nhà nước thực hiện so với tỷ lệ ngân sách Quốc hội biểu quyếtthường cách xa nhau khoảng 20%. trong khi tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế thông qua chỉ tiêu đểdành của quốc gia liên tục giảm thì nợ công liên tục tăng. đáng lo hơn cả là vay nợ nhưng làm ăn kém hiệu quảvà khả năng trả nợ ngày càng khó khăn hơn. một phần được sử dụng làm nguồn dự trữ b ả o lãnh. .3. N g u ồ n : N g â n h à n g Thế giới. nguồn để đầu tư tăngvà ngân sách lại ngày càng trở nên thâm hụt.về ngân sách cóthể xảy ra. N ợ c ô n g c ủ a M ỹ h i ệ n n a y c h i ế m t ớ i 9 0 % G D P ( t h e o W i k i l à 9 3 % ) . thì thâm hụt ngân sách không được quá 3%GDP mới được xét là thành viên của Khối. họ phải trả giá như khủngh o ả n g n ợ c ô n g v ừ a q u a v ì đ ã k h ô n g t u â n t h ủ n h ư v ậ y t h e o t h ô n g l ệ q u ố c t ế .2. khiến tính bền vững của nợ công càng bị giảm sút. Thídụ. UB N g â n s á c h Q H M ỹ (2010).Đối với Việt Nam. Natixis. 2. Tài trợ nợ công ở Việt Nam B i ể u đ ồ 4 : T h â m h ụ t n g â n s á c h c ủ a V i ệ t N a m v ớ i c á c n ư ớ c trên th ế giới . Thiếu hụt ngân sách ngày càng tăng. theo mức chuẩn của khối EUR. Như vậy. Trong đó có tới trên 60% là do Bộ Tài chính Mỹ phát hành tín/trái phiếu để đầut ư r a n ư ớ c n g o à i . c ò n 3 2 % l à n ợ d o s ử d ụ n g Q u ỹ A n n i n h x ã h ộ i ( c h ủ y ế u ở dạng quỹ lương hưu của người Mỹ).

trong những năm tới. trongkhi đó. nếu những dự án đang cần rất nhiều vốnnhư dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam (56 tỉ USD). dự án xây dựng thủ đô (60t ỉ U S D ) . có thể không đạt.Riêng một mình Vinashin mà khoản nợ đã chiếm tỉ lệ 6% GPD.000 ngàn tỷ đồng) cho người dân laođộng nghèo Việt Nam giải quyết!Trong báo cáo của Bộ kế hoạch và đầu tư thì con số GDP bình quân đầungười năm 2010 tại Việt Nam ước khoảng 1. Con số GDP trên đây chỉ làước tính.Hơn nữa. Dođó. tức GDP của cả nướcn ă m 2 0 1 0 ư ớ c đ ạ t k h o ả n g 1 0 3 t ỉ U S D t h ì k h o ả n n ợ c ủ a V i n a s h i n đ ư ợ c x á c định tương đương 6% GDP của cả nước năm 2010. chúng ta cũng nhìn n h ậ n l ạ i những gì mà bội chi ngân sách với những đầu tư quá hoang phí mà không cầnn g h ĩ đ ế n r ủ i r o h a y k h ô n g đ o n g đ o đ ư ợ c r ủ i r o .200 USD.Con tàu ma Vinashin do tập đoàn quốc doanh quản lý chưa kịp ra khơivùng vẫy trước sóng gió đã vội đắm ngay trước bãi đóng tàu của mình để lại “tờ di chúc” với khoản nợ khổng lồ (hơn 100. V í n h ư v ụ T ậ p đ o à n C ô n g nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin với số nợ lên tới 86. tức là có thể đạt. khối Doanh Nghiệp nhà nước với tiềm năng tài chính và nguồn lực to lớnnhưng mức độ lợi nhuận thấp. nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận (hơn 10 tỉ USD)… được .000 tỷ VND. thậm chí có doanh nghiệp lỗ nhiều năm liền. từ đó tỉ lệ nợ Vinashin trên GDP cảnước có thể cao hơn 6%.Từ những gì đã xảy ra trong thực tiễn.000 tỷ VND nhưngthực chất là tới 120. mức nợ của các doanh nghiệp nhà nước thực sự là một mối lo ngại cho nềnkinh tế.

2010. Báo cáo của Chính phủ Việt Nam nói năm 2010 có 20/21 đơn vịthuộc khối tập đoàn. Khối lượng vay vốn nước ngoài được chính phủ bảo lãnhc h o V i n a s h i n n ă m 2 0 0 9 đ ã ở m ứ c g ầ n 4 t ỷ U S D . nếu chưa muốn nói còn thua lỗ. t ă n g g ấ p 4 l ầ n m ứ c 0 . Văn phòng Chính phủ ký công văn truyền đạt ý kiếncủa Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng quyết định cho Vinashin khoản tiền 300triệu USD để trả nợ. Trong đó. 2 7 % n ă m 2 0 0 9 . 4 % n ă m 2 0 0 5 . y ế u k é m . dư nợ được Chính phủ bảo lãnh tăng qua các năm. cách tính bội chi chưa rõ ràng. Việc vay nợ của các tập đoàn có tính vào bội chingân sách hay không? Từ bài học của Vinashin cho thấy nếu tập đoàn này bị phásản thì Chính phủ phải can thiệp và chịu trách nhiệm với các khoản vay của tậpđoàn. Tảng băng ngầm trong những món nợ “tư” đã bắt đầu “nổi” lên và có ítnhất 300 triệu USD nợ của riêng Vinashin đã biến thành “nợ công” của quốcgia. . trong đó. Tỷ trọng nợ nước ngoài trong tổng dư nợ của Chính phủc ũ n g t ă n g l ê n m ứ c 1 4 . n ă m 2005. nợ nước ngoài tăng khoảng 38%/năm.Ngày 15/9/2010. tổng công ty 91 làm ăn có lãi. 9 1 t ỷ USD trong năm 2005.t h ự c hiện thì mức nợ công sẽ còn tăng cao. Như vậy chúngt a t h ấ y đ ư ợ c t h ự c t r ạ n g đ ầ u t ư c ô n g c ủ a V i ệ t N a m q u á q u a n l i ê u . không mang lại hiệu quả. Bình quân 5 nămqua tăng khoảng 40%/năm. nợ trong nước tăng khoảng 42%/năm. trừ Vinashin. bình quân ở mức 7% GDP/năm. N h ư v ậ y c ó t h ể t h ấ y v ấ n đ ề n ợ c ô n g c h ư a đ ư ợ c q u a n t â m đ ú n g m ứ c . g ấ p 2 l ầ n m ứ c 6 . bảo lãnhvay nợ trong nước ở mức 5% GDP/năm và bảo lãnh vay nợ nước ngòai ở mức2% GDP/năm. Tỷ lệ dư nợ được Chính phủ bảo lãnh so vớiGDP cũng tăng qua các năm.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful