Lêi c¶m ¬n Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, sự hợp tác, giúp đỡ nhiệt tình

của các đồng chí giáo viên trong nhà trường đã tạo điều kiện cho tôi khảo sát thực tế, thu thập số liệu, góp nhiều ý kiến cho tôi hoàn thành đề tài sáng kiến này. Do điều kiện nghiên cứu, thời gian, phạm vi có hạn nên sáng kiến không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự góp ý chân thành của đồng chí, đồng nghiệp, của hội đồng khoa học cấp trường và cấp ngành để SKKN của tôi được hoàn thiện hơn và có giá trị ứng dụng thực tiễn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ngêi viÕt Lª ThÞ Hoµi Th¬ng

MỤC LỤC A. Phần mở đầu:………………………………………….� ��……………………. Trang 04 1. Lý do chọn đề tài :……………………………….…………� ��……................. Trang 04 2. Mục đích nghiên cứu:………….………….…..................... ...... ……………… Trang 05 3. Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu: ………………… Trang 05 4. Thời gian nghiên

cứu:.................................................. .................................... Trang 06 B. Phần nội dung:……………………………….…………� ��….. ……………… Trang 06 I/ Cơ sở lí luận:.................................................. .................................................. .........Trang 06 II/ Cơ sở thực tiễn:.................................................. .................................................. . Trang 06 1. Khảo sát tình hình…………………………………………� �………………… Trang 06 2. Chỉ tiêu phấn đấu đầu năm:………......... …............................. ....................…Trang 07 III/ Nội dung và biện pháp thực hiện: ………………………………………. Trang 07 4. Kết quả đạt được:……………………………………….…� ��. ………………… Trang 12 C. Phần kết luận:………………………………..………… …. ………………… Trang 13 1. Bài học kinh nghiệm:…………………………………….….… ……………… Trang 13 2. Kiến nghị - đề xuất:………………………………………….� ��……………… Trang 13 D. Phần phụ lục:……………………………………...…� �……. ……………… Trang 15 KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI - SKKN: Sáng kiến kinh nghiệm. - HS: Học sinh. - HĐKH: Hội đồng khoa học. - TH: Tiểu học. - GVCN: Giáo viên chủ nhiệm.

đặt ra cho tôi những nhiệm vụ sau: 1. 3. bồi dưỡng nhân tài”. việc chăm lo phát triển bồi dưỡng học sinh giỏi góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước được xem là một nhiệm vụ cần thiết và quan trọng. Để đạt được những mục tiêu đó. đào tạo nhân lực. trong những học sinh giỏi này sẽ có những em trở thành những tài năng văn học. tâm hồn. góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại.SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LỚP 5 A/ PHẦN MỞ ĐẦU: I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Theo “chiến lược con người” mà Đảng và nhà nước đã vạch ra đường hướng rất đúng đắn là “ nâng cao dân trí. Nhiều năm qua. nhà ngôn ngữ học mặc dầu trên thực tế. Nhà trường của chúng ta hướng đến phát triển tối đa những năng lực còn tiềm ẩn trong mỗi học sinh. 2. tôi luôn luôn trăn trở đi sâu tìm hiểu nội dung chương trình Tiếng Việt lớp 5 đại trà và nâng cao. ngôn ngữ học. Bồi dưỡng hứng thú Tiếng Việt cho học sinh. khả năng tư duy và năng lực ngôn ngữ. Mục tiêu chính của việc làm này là bồi dưỡng lẽ sống. việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn tiếng Việt. Phát hiện những học sinh có khả năng trở thành học sinh giỏi Tiếng Việt. cảm thụ văn chương cho học sinh. Ở trưởng tiểu học đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo dục tiểu học. bản thân tôi được giao nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt lớp 5. Bồi dưỡng vốn sống cho học sinh. tìm phương pháp tối ưu để giảng dạy có hiệu quả. . Và bản thân tôi nhận thấy mục tiêu của việc bòi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt không phải để tạo ra các nhà văn.

Trong quá trình thực hiện đề tài này. khó khăn sau: 1.Tạo mọi điều kiện có thể để công việc bồi dưỡng học sinh giỏi có chất lượng như thời gian. đánh giá. . khuyến khích học sinh và giáo viên bồi dưỡng. 2. chúng ta đã chú ý bồi dưỡng học sinh giỏi nhưng điều kiện thực tế còn nhiều hạn chế.. chỉ đạo chương trình. hiếu học. Bồi dưỡng kiến thức. . Việc giải quyết mồi quan hệ giữa giáo dục toàn diện và bồi dưỡng học sinh giỏi còn nhiều lúng túng. đặc biệt việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt còn gặp nhiều khó khăn hơn bởi nhiều lí do: Về phía phụ huynh học sinh: số phụ huynh có nguyện vọng cho con bồi dưỡng Tiếng Việt ít hơn bồi dưỡng Toán. Phụ huynh rất ít quan tâm đến việc học tập của con cái do điều kiện kinh tế của nhân dân ở địa phương còn hết sức nghèo nàn. Khó khăn: Nhìn chung nhiều năm nay. Thuận lợi: Trước hết.4. tôi gặp phải những thuận lợi. mua sắm tài liệu tham khảo là rất khó khăn do vậy hạn chế không nhỏ đến chất lượng học tập của các em.Học sinh chăm ngoan. đó là sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo nhà trường: . Rất nhiều gia đình phụ huynh phải đi làm ăn xa. Chính vì thế tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5”. việc học tập ở nhà. kĩ năng Tiếng Việt cho học sinh. tài liệu. .Nhà trường có những biện pháp động viên.Bản thân hiệu trưởng trực tiếp tham gia kiểm tra.. khó khăn. . tạo động lực thúc đẩy công việc có hiệu quả tốt.

II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Khảo sát thực trạng công tác bồi dưỡng và chất lượng học sinh giỏi lớp 5 ở trường TH Nguyễn Văn Trỗi. công tác bồi dưỡng. báo.Quảng Trị. Nghiên cứu chất lượng HS giỏi những năm trước. Giáo viên bồi dưỡng Tiếng Việt kinh nghiệm còn ít. giáo trình có liên quan đến công tác bồi dưỡng HS giỏi..Quảng Trị. Nghiên cứư công tác chỉ đạo của nhà trường đối với công tác bồi dưỡng HS giỏi. Thêm nữa. 2/ Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu biện pháp bồi dưỡng để nâng cao chất lượng HS giỏi ở trường TH Nguyễn Văn Trỗi – Cam Lộ. Nghiên cứu sách. do đặc trưng môn học. chất lượng học tập của HS giỏi lớp 5. c/ Phương pháp nghiên cứu tài liệu. khả năng tư duy nghệ thuật còn hạn chế. Đề xuất một số biện pháp thực hiện công tác bồi dưỡng để nâng cao chất lượng HS giỏi lớp 5 ở trường TH nguyễn Văn trỗi nói riêng và ở trường Tiểu học nói chung. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 1/ Phạm vi nghiên cứu: Do điều kiện thời gian có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số biện pháp bồi dưỡng để nâng cao chất lượng HS giỏi ở trường TH Nguyễn Văn Trỗi – Cam Lộ. thực trạng về công tác chỉ đạo. b/ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. đặc biệt phần cảm thụ và viết văn phụ thuộc rất nhiều vào cá nhân học sinh. quá trình học tập. III/ PHẠM VI. vào quá trình tích lũy lâu dài của các em... ĐỐI TƯỢNG.Về phía giáo viên: Kiến thức tiếng Việt. .cam Lộ Quảng Trị. 3/ Phương pháp nghiên cứu: a/ Phương pháp quan sát: Quan sát thức tế.

Để có thể bồi dưỡng học sinh giỏi. tinh thần tận tâm với công việc. phỏng vấn thu thập thông tin về số liệu. Ở nước ta. tư duy. Vì vậy trên thế giới. nổi trội hơn các em khác chiếm từ 5-10% tổng số học sinh. bản thân tôi nhận thấy giáo viên dạy bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt nắm khá chắc nội dung chương trình và kiến thức Tiếng Việt khối 5. học tốt.. việc bồi dưỡng học sinh giỏi có tác dụng tích cực trở lại đối với giáo viên. biết vận . từ nhiều năm nay vấn đề này cũng được quan tâm. chất lượng học sinh giỏi các năm trước ở chuyên môn nhà trường. vốn sống. tổ chức thi học sinh giỏi môn Tiếng Việt còn có tác dụng thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt. người ta luôn quan tâm đến việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài ngay từ những năm tháng trẻ còn nhỏ tuổi. II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN: 1/ Khảo sát tình hình: Qua nhiều năm giảng dạy. Đồng thời với việc thực hiện nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. phỏng vấn: Điều tra.d/ Phương pháp điều tra. IV/ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU: Thời gian bắt đầu: Tháng 10 năm 2007 Thời gian hoàn thành: Tháng 4 năm 2008 B/ PHẦN NỘI DUNG: I/ CƠ SỞ LÍ LUẬN: Các kết quả thực tế cho thấy số học sinh được xem là có năng lực nhận thức. người giáo viên luôn phải học hỏi. Các tài năng xuất hiện từ rất sớm. tự bồi dưỡng kiến thức để nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm cũng như phải bồi dưỡng lòng yêu nghề. GVCN..

biết trân trọng sự sáng tạo dù nhỏ của học sinh. Bài tập cảm thụ văn học quá mới mẻ và hết sức khó đối với các em. Trình độ ngôn ngữ của các em còn thấp mà yêu cầu đặt ra đối với học sinh giỏi môn Tiếng Việt tương đối cao và đa dạng do vậy nhiều năm liền số HSG đạt giải cấp huyện. Công tác chỉ đạo của nhà trường cũng như mỗi cán bộ giáo viên đã nhân thức sâu sắc về các cuộc vận động lớn của ngành như “ Đổi mới công tác quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục”. Kết quả khảo sát chất lượng môn Tiếng Việt lớp 5: ( Đội tuyển) TS Giỏi Khá Trung bình Yếu Ghi chú SL Tỉ lệ % .dụng đổi mới PPDH: Lấy học sinh làm trung tâm. đọc đề qua loa. Sự chú ý của các em chưa bền vững. chưa hiểu thấu đáo đã bắt tay vào làm.. học sinh tích cực”.. phong tào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện. Tuy nhiên thời gian dành cho chương trình bồi dưỡng đến khi học sinh dự thi không phải là nhiều so với lượng kiến thức các em cần nắm thì quá rộng. biết sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để hướng dẫn học sinh phân tích tìm hiểu bài tập. khả năng tập trung chưa cao nên học sinh thường nóng vội. cấp tỉnh rất ít và chưa có giải cao.

3 3 25 8 66.7 0 0 2/ Chỉ tiêu phấn đấu: TS Giỏi Khá Trung bình Yếu Ghi chú SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL .SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ 12 1 8.

Tỉ lệ 12 10 83 2 16. biết liên tưởng. Các em có những phẩm chất tư duy có tính thống nhất: tư duy phân loại. Có em còn biết quan sát hiện thực. phân tích. giàu . gắng ghi nhớ và ghi chép những câu văn hay. nhận xét ngôn từ của mọi người và của chính mình. thích nghe kể chuyện. ham mê đọc sách báo. có hứng thú với nghệ thuật ngôn từ. yêu thích thơ ca.6 0 0 0 0 Chỉ tiêu :HSG cấp huyện: 3-4 HS HSG cấp tỉnh: 2-3 HS IV/ NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỤC HIỆN: A/ Tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt: 1/ Phát hiện học sinh có khả năng trở thành học sinh giỏi môn Tiếng Việt: Những học sinh có khả năng về môn Tiếng Việt có những biểu hiện sau: Các em có lòng say mê văn học. khái quát hóa. Có năng lực quan sát. trừu tượng hóa.Tiếng Việt. có những em ước mơ thành nhà văn hoặc trở thành cô giáo dạy bồi dưỡng môn văn . Phần lớn các em không hờ hửng trước vẻ đẹp của ngôn từ văn chương.

cảm xúc. cách nói của văn chương. sử dụng những câu có nhiều thành phần phụ như định ngữ. Quảng trường này rất có ý nghĩa vì tại đây bác Hồ đã đọc tuyên ngôn độc lập.” Các em đã hiểu được vừa hình ảnh vừa cụ thể: mẹ lúc nào cũng sẵn sàng chăm sóc con. Vậy cần đặt vấn đề phải phát hiện những học sinh có khả năng giỏi Tiếng việt từ lúc nào? Nên tổ chức bồi dưỡng học . Từ đó ta thấy các em có khả năng tư duy nghệ thuật là có khả năng tiếp nhận vẻ đẹp của ngôn từ. từ láy. Chúng ta thử so sánh 2 cách diễn đạt của một học sinh trung bình và một học sinh giỏi môn Tiếng Việt: “ Chúng em đã đến thăm Quảng trường Ba Đình. bỗ ngữ. làm tất cả những gì mà con cần. Hay có em khi đọc 2 câu thơ “ Con xót lòng mẹ hái trái bưởi đào Con nhạt miệng có canh tôm nấu khế. cũng chính nơi đây toàn dân ta đã chung sức xây nên nơi an nghỉ cuối cùng của Người” Đoạn văn của em học sinh giỏi nó có tác động không phải chỉ vào lí trí mà cả tình cảm của người đọc. biết phát hiện những tín hiệu nghệ thuật ngôn từ trong việc biểu đạt nội dung.. Về khả năng sử dụng từ: Những học sinh giỏi Tiếng Việt thường có khả năng sử dụng nhiều tính từ. Ví dụ một em nhìn thấy trăng bị mây che đã nói: “ trăng đắp chăn”. rõ ý.. lăng Bác được dựng ở đây. Nơi đây Bác Hồ đã đọc tuyên ngôn đọc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. từ tượng thanh. tình cảm của mình với hiện thực được nói tới. câu văn sáng sủa. từ tượng hình. lo lắng cho con.” “ Thế là chúng em đã được đến Quảng trường ba Đình lịch sử. bộc lộ được sự đánh giá. cũng vì thế.

có nhiều trường khi chuẩn bị thi học sinh giỏi mới tập trung một số buổi để ôn luyện. đọc thông . 2/ Bồi dưỡng hứng thú học tập: Hứng thú có vai trò quan trọng trong học tập và làm việc. Ví dụ cách giới thiệu bài: Chúng ta đã được học rất nhiều bài về mẹ. Vì vậy M. .sinh giỏi từ lớp nào? Trên thực tế. nhiệm vụ chính của các em là nhanh chóng chiếm lĩnh công cụ chữ viết. Để phát hiện những học sinh có năng lực Tiếng Việt. theo dõi.goocki có nói: “ Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc”. phỏng vấn trực tiếp các em. nắm tình hình học tập của trẻ. Không có việc gì người ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú. từng giờ. Vì vậy bồi dưỡng hứng thú học tập rất quan trọng. Không có con đường nào khác là giúp các em thấy được vẻ đẹp và khả năng kì diệu của tiếng Việt – văn học. cần có sự điều tra các phép đo nhằm khảo sát. người giáo viên đều hướng đến hình thành và duy trì hứng thú cho học sinh. tìm hiểu hứng thú. tìm hiểu thông qua phụ huynh. Có thể nói việc bồi dưỡng học sinh giỏi càng bắt đầu sớm bao nhiêu càng có hiệu quả bấy nhiêu. từng phút trong giờ Tiếng Việt. “Bao tháng bao năm mẹ bế con trên đôi tay mềm mại ấy” “ mẹ là ngọn gió của con suốt đời” “ Bình yêu nhất là đôi bàn tay mẹ. các em hãy cùng cô đọc xem bài “Mẹ” này có gì khác với những bài về mẹ mà các em đã học. những ngón tay gầy gầy xương xương”. chúng ta lại được học một bài có tựa đề về “ Mẹ” của nhà thơ Bằng Việt. nhiều trường bồi dưỡng từ lớp 4.viết thạo nên ở những trường có điều kiện cũng chỉ nên bồi dưỡng học sinh giỏi từ lớp 2... Hôm nay. Ở lớp 1.

giáo viên thường cho rằng các em không nắm được lí thuyết thể văn mà không hiểu rằng nguyên nhân đầu tiên làm các em không có hứng thú viết là các em không tạo được một quan hệ thân thiết giữa mình với đề bài . Cho trẻ tiếp xúc trực tiếp càng nhiều càng tốt với những tác phẩm văn chương. Nguyên nhân đó là việc thiếu hụt về vốn sống. ngoại khóa Tiếng việt. để viết. Khi một em học sinh ngồi trước một đề văn 15-20 phút vẫn chưa viết được. vốn cảm xúc của học sinh. 3/ Bồi dưỡng vốn sống: Hiện nay.đối tượng kể hoặc tả.. những mẫu hình sử dụng ngôn ngữ mẫu mực vì “ không làm thân với văn thơ thì không nghe thấy được tiếng lòng chân thật của nó” ( Lê Trí viễn) Hứng thú Tiếng Việt – văn chương còn được tạo ra bằng cách kể cho các em nghe về cuộc đời riêng của các nhà văn.Cả những bài về từ ngữ hay ngữ pháp khô khan cũng đều gây được hứng thú nếu giáo viên nắm được bản chất vấn đề và biết dùng phương pháp nêu vấn đề. trải nghiệm những gì các em sẽ phải viết.. Người giáo viên đóng vai trò dẫn . nghĩa là các em không có nội dung. Nhưng trí tưởng tượng dù có bay bổng đến mấy vẫn phải có cơ sở bắt nguồn từ thực tiễn. nhiều giáo viên khi dạy làm văn cho học sinh thường thiên về dạy kỉ thuật làm mà ít cung cấp các chất liệu sống – cái tạo nên nội dung bài viết. tôi rút ra phương pháp bồi dưỡng vốn sống cho các em trước hết đó là vốn sống trực tiếp: cho các em quan sát. không có gì để nói. Từ đó. Tất nhiên giáo viên cần làm cho vốn sống thực này không cản trở trí tưởng tượng của các em. tổ chức nói chuyện thơ văn. Ví dụ hướng dẫn các em quan sát con đường trước khi yêu cầu các em tả nó. nhà thơ nổi tiếng.

một cây bàng đang thay lá. nảy nở những ước mơ tốt đẹp khơi dậy năng lực hành động. Giáo viên cần xây dựng cho học sinh hứng thú và thói quen đọc sách . từ tượng hình.1 bồi dưỡng kiến thức. trong mắt chưa có núi sông kì lạ của thiên hạ thì chưa học được văn”..kĩ năng từ ngữ: Được chia làm 2 mãng lớn: a/ Bồi dưỡng lí thuyết về từ: Nội dung không vượt ra ngoài 12 bài lí thuyết về từ.. bồ kết. tạo nguồn cảm hứng khơi dậy suy nghĩ trong các em như khi quan sát một con lợn.là những từ mà cả 2 tiếng đều không có quan hệ cả về nghĩa lẫn về âm. Nếu HS chủ động đưa ra để hỏi thì giáo viên trả lời đó là một từ ghép đặc biệt: từ ghép ngẫu hợp . các dạng từ láy. mít tinh. từ cùng nghĩa... những từ thuần Việt như tắc kè. từ láy. Lưu ý ở tiểu học.dắt. 4/ Bồi dưỡng kiến thức kĩ năng Tiếng Việt: 4. xà phòng. từ trái nghĩa.. bồi dưỡng tâm hồn. từ nhiều nghĩa. một cây chuối đang trổ buồng. bồ hóng. Người xưa nói: “ trong bụng không có 3 vạn quyển sách. từ tượng thanh. từ ghép tổng hợp. các kiểu từ láy. hay những từ vay mượn: mì chính. Đọc sách. các em không chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm. nghĩa của từ láy. Phân loại nhóm từ đa âm phải dựa vào mối quan hệ giữa các tiếng trong từ: Nếu có mối quan hệ về mặt ngữ nghĩa là từ ghép. một đàn kiến tha hạt gạo. Nếu có mối quan hệ về âm là từ láy. gợi mở. từ ghép phân loại.. từ đơn. từ ghép. vì vậy những từ này không được dùng làm ngữ liệu để ra bài tập. từ cùng âm khác nghĩa b/ Phân loại nhận diện từ theo cấu tạo: Dựa vào số lượng tiếng của từ chia ra từ đơn và từ đa âm.

cá thể hóa nghĩa cho yếu tố kia..2 Làm giàu vốn từ hay luyện kĩ năng nắm nghĩa từ và sử dụng từ cho HS: Dạng 1: Yêu cầu HS giải nghĩa từ ngữ hay thành ngữ .đều được xem là từ láy. mẹ ghẻ. Có thể đổi thành “ trong sáng”. đều được xem là từ láy và được giải thích nó giống nhau ở chỗ cùng vắng khuyết phụ âm đầu. gật gật. . mang tính tổng hợp. khái quát. khi là từ ghép phân loại . ngày ngày. Từ ghép phân loại: Có yếu tố cụ thể hóa. Dạng 3: Yêu cầu HS kể ra các từ theo chủ đề: Dạng 4: Yêu cầu phân loại từ theo nhóm nghĩa và đặt tên cho nhóm..1. ọc ạch. Lưu ý một số từ tùy từng ngữ cảnh mà xếp khi là từ ghép tổng hợp. ba ba. mẹ kế... Những từ như cong queo. king coong. thằn lằn. Về phân biệt từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại. Ví dụ: Em hiểu thành ngữ “ Gió chiều nào che chiều ấy” là thế nào? Lao động trí óc là gì? Dạng 2: Cho những từ có cùng yếu tố cấu tạo: Ví dụ phân biệt nghĩa của mẹ đẻ. Dạng 5: Dạng đề sửa lỗi dùng từ sai. 4. cuống quýt.. mẹ nuôi. ỏn ẻn. Ví dụ: từ “ sáng trong” trong câu: “ Một tấm lòng sáng trong như ngọc” là từ ghép tổng hợp. Từ ghép tổng hợp: Giữa các tiếng có quan hệ đẳng lập...Các từ 2 tiếng có sự giống nhau nào đó về âm như chôm chôm. Các kiểu từ như ồn ào. Nhưng trong câu “ Nhớ mua bóng đèn sáng trong đừng mua bóng đèn sáng đục” thì “ sáng trong” ở đây là từ ghép phân loại. ầm ĩ. cũng là từ láy có phụ âm đầu viết dưới dạng thức các con chữ khác nhau..

ví dụ nào đã thành câu? Ví dụ nào chưa thành câu? Vì sao? Chữa lại cho đúng. . Vì vậy cần tập trung vào các dạng bài tập: . phần ngữ pháp thường chiếm số điểm 5/20. cho HS được tiếp cận nhiều lần thì bài kiểm tra mới đạt hiệu quả cao. 4/ Kiến thức về từ loại.2 Bồi dưỡng kiến thức. đoạn văn. kĩ năng xác định từ loại: Dạng yêu cầu HS tìm danh từ. các thành phần câu: Đó là các dạng bài tập: Yêu cầu HS chỉ ra các thành phần của câu cho sẵn Yêu cầu HS tìm bộ phận chính. Và nhiều dạng khác nữa.Dạng 6: Đặt câu.. 3/ Kiến thức về dấu câu và kĩ năng sử dụng dấu câu. Dạng chữa lại những chỗ đã đặt dấu câu không đúng. giáo viên phải nắm chắc. Dạng cho một đoạn văn không có dấu câu yêu cầu HS tự đánh dấu câu và chỗ thích hợp. kĩ năng ngữ pháp: trong các đề thi học sinh giỏi.các ví dụ sau.. viết đoạn văn với từ cho sẵn: Dạng 7: Điền từ vào chỗ trống. nhầm ngữ danh từ là câu. tính từ trong câu. động từ.Chữa câu sai bằng 2 cách 2/ Cấu tạo ngữ pháp của câu. bộ phận phụ của câu Yêu cầu HS kết hợp các thành phần câu Dạng mở rộng nòng cốt câu bằng cách thêm các thành phần phụ. 5 Bồi dưỡng cảm thụ văn học: Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học là một quá trình lâu . Các dạng đề và những điều cần lưu ý cho HS: 1/ Khái niệm câu và bản chất của câu: Các em thường nhầm trạng ngữ là câu. 4. thường đặt câu thiếu thành phần.

Có vốn sống các em mới có khả năng liên tưởng để tiếp nhận tác phẩm. Hoạt động của giáo viên chỉ có tác động bổ trợ cho cảm xúc thẩm mỹ nảy sinh. tạo điều kiện để các em tiếp xúc nhiều với tác phẩm. kết cấu tác phẩm. các đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật. tưởng tượng. sáng tạo. vốn văn học.. Để giúp HS cảm thụ được tác phẩm. nó giúp HS nâng cao khả năng cảm xúc thẩm mỹ và kích thích các em khám phá ra cái hay. tư tưởng của tác giả. cảm xúc thực.. Giáo viên là người gợi mở dẫn dắt cho sự tiếp xúc của HS với tác phẩm tốt. một số biện pháp tu từ. tình cảm. cần tôn trọng suy nghĩ. cái đẹp của văn chương. giáo viên không được cảm thụ hộ. đánh giá nhân vật. Đồng thời giáo viên phải trang bị cho các em một số kiến thức về văn học như hình ảnh. biến HS thành người minh họa cho mình. thái độ. bài tập liên tưởng. luyện cách diễn tả chính xác. giáo viên cần có hệ thống câu hỏi. năng lực cảm thụ văn học một cách tổng hợp. 6/ Bồi dưỡng làm văn: Làm văn là nơi thử thách ở HS các kĩ năng Tiếng Việt: vốn sống. chi tiết. Một trong những biện pháp có hiệu quả nữa là giúp HS đọc diễn cảm có sáng tạo. sinh . ngây thơ của trẻ và nâng chúng lên ở chất lượng cao hơn. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học trước hết là bồi dưỡng vốn sống cho các em. cách cảm chân thật. đánh giá giá trị nghệ thuật những từ ngữ hình ảnh cấu tứ gây ấn tượng.dài và công phu. Học sinh phải thể hiện cảm xúc suy nghĩ bằng ngôn ngữ nói và viết từ đó rèn cách nghĩ. đó là những câu hỏi về ý nghĩa của tác phẩm giúp HS hiểu mục đích thông báo của văn bản.

Giáo viên cần chấm chữa bài cho từng em thật kĩ lưỡng. tự rút ra kinh nghiệm và sửa chữa. Về kiến thức từ ngữ. biết tự ra đề. giáo viên biết lựa chọn đề. Thứ 2: giáo viên cần rèn luyện cho HS kĩ năng tìm hiểu phân tích đề. đề bài gần gũi. tranh luận khi chữa bài. Về khả năng cảm thụ văn học và làm văn thì điểm tốt mới dùng lại ở một số ít HS nhưng các em đã có sự tiến bộ vượt bậc so với khảo sát đầu năm học : . quan sát tìm ý. Trước hết để luyện tập kĩ năng viết văn của HS cần có những bài viết tốt. Trong khâu luyện làm văn.Năm học 2007 – 2008: TS Giỏi Khá Trung bình Yếu Ghi chú . tìm hiểu thực hiện đề tài này.động. Nên tạo không khí trao đổi. khâu đánh giá. ngữ pháp các em nắm rất chắc và đã quen thuộc với các dạng đề. tôi nhận thấy tuy đây mới chỉ là bước đầu vừa làm vừa rút kinh nghiệm nhưng HS giỏi môn Tiếng Việt khối 5 mà tôi phụ trách đã có nhiều bước chuyển biến mới. thân thiết quen thuộc với các em nhưng không lặp lại. những kĩ năng diễn đạt . trả bài giúp HS thấy được những ưu khuyết điểm của bài viết của mình. V/ KẾT QUẢ: Qua quá trình nghiên cứu. hồn nhiên tiến tới có nét riêng độc đáo. viết đoạn và hoàn thiện bài viết. sửa chữa rất quan trọng. gò bó. nhàm chán.

Năm học 2008-2009: TS .SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ 10 4 40 6 60 0 0 0 0 Kết quả thi HSG cấp huyện: Giải nhì: 1 em Giải ba: 1 em Giải khuyến khích: 2 em Kết quả thi HSG cấp tỉnh: Giải ba: 1 em Giải khuyến khích: 2 em .

Giỏi Khá Trung bình Yếu Ghi chú SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ 10 7 70 3 30 0 0 0 0 Kết quả thi HSG cấp huyện: Giải nhì: 1 em Giải khuyến khích: 2 em Kết quả thi HSG cấp tỉnh: Giải khuyến khích: 2 em C/ PHẦN KẾT LUẬN: I/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM: Qua thực tiễn nhiều năm bồi dưỡng học sinh giỏi. bản thân .

7/ Đối với học sinh: tạo cho các em có niềm say mê hứng thú học môn Tiếng việt.3 2/ Chú trọng hơn khi khảo sát lựa chọn học sinh vào lớp bồi dưỡng. học hỏi các đồng nghiệp có kinh nghiệm và các trường có nhiều thành tích. 6/ luôn thân thiện.tôi đã rút ra được bài học kinh nghiệm sau: 1/ Để bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt có hiệu quả. giao lưu. báo cáo kinh nghiệm học tập bộ môn. 9/ luôn phối hợp với gia đình để tạo điều kiện tốt nhất cho các em tham gia học tập II/ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT: 1/ Đối với nhà trường: Nên tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi ngay từ lớp 2. luôn mẫu mực trong lời nói. có vốn sống. 2/ Thực sự yêu nghề. 3/ thường xuyên học hỏi trau dồi kiến thức. soạn bài. tài liệu có liên quan. cử chỉ. thái độ. 5/ tham khảo nhiều sách báo. tâm huyết với công việc bồi dưỡng HS giỏi. vốn cảm xúc phong phú. 4/ Có nhiều giải pháp tốt để nâng cao chất lượng đại trà thì mới tạo nền tảng vững chắc cho công tác bồi dưỡng học . 4/ Có phương pháp nghiên cứu bài. tích lũy được một hệ thống kiến thức phong phú. 3/ Chuyên môn nhà trường nên tổ chức một số buổi ngoại khóa Tiếng Việt. việc làm. ghi chép giáo án một cách thuận tiện. trước hết phải có giáo viên vững về kiến thức – kĩ năng thực hành Tiếng Việt. cởi mở với HS. khoa học. lối sống lành mạnh để HS noi theo. 8/ Học sinh cần có nhiều loại sách để tham khảo. có tấm lòng trong sáng.

sinh giỏi. ngày 15 tháng 11 năm 2010 Đánh giá của Tổ CM và Người viết: HĐKH nhà trường Lê Thị Hoài Thương . Cam Hiếu.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful