Thị trường ngoại hối Việt Nam – diễn biến và xu thế

1:34 chiều | Tháng Chín 3, 2011

(Petrotimes) - Thành lập từ năm 1991, trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều thăng trầm, thị trường ngoại hối Việt Nam đã có một bước phát triển đáng kể về quy mô cũng như loại nghiệp vụ giao dịch. Tuy vậy, các chuyên gia tài chính vẫn hết sức thận trọng khi nhìn nhận hướng phát triển của thị trường này. Những dấu mốc đáng lưu ý Năm 1991, Trung tâm Giao dịch ngoại tệ được thành lập và hoạt động với mục tiêu: Thiết lập thị trường ngoại hối chính thức cho giao dịch giữa ngân hàng và các đơn vị kinh tế; Đánh giá và đo lường cung cầu ngoại tệ trên thị trường; Quyết định tỉ giá chính thức hợp lý giữa USD và VND; Chuẩn bị những điều kiện ban đầu cho việc hình thành thị trường tài chính trong tương lai. Năm 1994, Trung tâm Giao dịch ngoại tệ chấm dứt hoạt động thay vào đó là thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, nhằm xây dựng một thị trường có tổ chức cho giao dịch ngoại tệ giữa các ngân hàng thương mại (NHTM) và tạo cơ sở hình thành thị trường ngoại hối hoàn chỉnh trong tương lai. Trước năm 1998, trên thị trường các giao dịch chủ yếu là giao dịch giao ngay. Kể từ năm 1998, giao dịch ngoại tệ kỳ hạn và hoán đổi mới chính thức được đưa vào giao dịch. Cho đến nay, thị trường ngoại hối Việt Nam đã có một bước phát triển đáng kể về quy mô cũng như loại nghiệp vụ giao dịch, thu hút được sự tham gia của nhiều doanh nghiệp và NHTM trong và ngoài nước. NHTM đóng vai trò nòng cốt trên thị trường ngoại hối và đóng vai trò trung gian trong các giao dịch kinh doanh ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho khách hàng là các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty xuất nhập khẩu. Ngoài ra, các NHTM còn mua bán ngoại tệ với nhau trên thị trường nhằm mục tiêu thu lợi nhuận và đảm bảo cân bằng trạng thái ngoại tệ khi cần để giảm thiểu rủi ro. Diễn biến những năm gần đây Năm 2009, tỉ giá USD/VND tiếp tục đà tăng trong 4 tháng đầu năm, đặc biệt sau khi NHNN thực hiện nới rộng biên độ tỉ giá lên ±5% khiến cho tỉ giá ngoại tệ liên NH đã có đợt tăng đột biến. Năm 2010, giá USD đã tăng khá mạnh trong năm 2009, sang đến tháng 1/2010 lại giảm nhẹ và tiếp tục dao động quanh mức 18.479đồng/USD cho đến giữa

chênh lệch giữa giá thị trường tự do với giá niêm yết trên thị trường chính thức đã giảm đáng kể. vàng hóa nền kinh tế. Theo số liệu của NHNN. tỉ giá giao dịch của các NHTM thường ở mức thấp hơn biên độ tối đa theo quy định (1% so với tỉ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng do NHNN công bố). từ vốn đầu tư gián tiếp. tính đến hết tháng 7. các tập đoàn. . Trên thị trường chính thức. làm ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô. tỉ giá cơ bản ổn định và có xu hướng giảm. Các doanh nghiệp và người dân đã bắt đầu bán ngoại tệ cho ngân hàng. sức ép tâm lý găm giữ USD do lo sợ rủi ro tỉ giá giảm. xen kẽ những ngày tăng. Khi thị trường tự do bị thu hẹp. chênh lệch tỉ giá giữa thị trường này so với thị trường chính thức giảm dần xuống. thậm chí có thời điểm còn thấp hơn cả thị trường chính thức – một hiện tượng hiếm thấy trong nhiều năm qua. tổng công ty lớn của Nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng. từ nguồn kiều hối từ Việt kiều và từ lao động làm việc ở nước ngoài gia tăng. đây là điều hiếm thấy trước đây. thị trường ngoại hối VN rơi vào tình trạng căng thẳng khi cầu ngoại tệ quá lớn. điểm nổi bật nhất của thị trường ngoại tệ là duy trì được sự ổn định. với chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN. nguồn thu từ khách quốc tế đến Việt Nam gia tăng trở lại. kim ngạch xuất khẩu chuyển từ tăng trưởng âm (-) sang tăng trưởng dương (+)… Bên cạnh đó. từ vốn hỗ trợ phát triển chính thức. chênh lệch tỉ giá giữa thị trường tự do và thị trường chính thức giảm thiểu. một động thái mà từ giữa năm 2008 đến trước tháng 5/2011 chưa thực hiện được. Bắt đầu từ sự “giảm nhiệt” của tỉ giá trên thị trường tự do. đã tạo thời cơ để NHNN mua vào ngoại tệ. việc niêm yết giá thanh toán. Đến cuối năm 2010. tạo tiền đề thực hiện việc kìm chế lạm phát. Điều này khiến cho giá USD/VND tăng mạnh. góp phần vào việc ổn định tâm lý. tỉ giá đã có nhiều ngày đứng và nhiều ngày giảm.tháng 2/2010. 6 tháng đầu năm 2011. Nguyên nhân là do: Nguồn cung USD có thể tăng từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp. Xu thế phát triển Kết quả tổng quát của việc ổn định thị trường ngoại tệ là góp phần vào việc chống đôla hóa. bước đầu chuyển dần quan hệ huy động và cho vay bằng ngoại tệ sang quan hệ mua – bán ngoại tệ giữa ngân hàng với khách hàng. ổn định kinh tế vĩ mô. Tỉ giá giao dịch dần hạ xuống. NHNN đã mua được 5 tỉ USD dự trữ ngoại hối. mua – bán trực tiếp bằng ngoại tệ đã được thu hẹp. củng cố và nâng cao lòng tin vào đồng tiền quốc gia. trong khi nguồn cung lại khan hiếm.

nhưng cũng chưa thể chủ quan. theo thống kê từ đầu năm đến nay. hỗ trợ phát triển chính thức và khách quốc tế đến Việt Nam có thể tăng. nguồn ngoại tệ từ đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm. dẹp bỏ thị trường chợ đen. làm cho nguồn cung ảo USD trên thị trường gia tăng. Người có vốn có thể vẫn chưa hết kỳ vọng vào các nơi “trú ẩn” an toàn. nhưng không có ý nghĩa quyết định. Và về lâu dài. để giải quyết tốt bài toán tỉ giá ở Việt Nam. Mặt khác. Chênh lệch quá lớn giữa lãi suất đồng nội tệ và ngoại tệ khiến các doanh nghiệp đổ xô đi vay USD. nguồn kiều hối sẽ khó tăng cao so với năm trước. cán cân thanh toán bị mất cân đối.Tuy đã đạt được những kết quả tích cực. Các chuyên gia kinh tế lo ngại rằng. cần phải giải quyết một cách căn bản bài toán nhập siêu và lạm phát nhằm tạo dựng lòng tin vững chắc vào tiền đồng. giảm mức trần lãi suất huy động USD… chỉ tác động ngắn hạn đến tỉ giá. bởi thị trường ngoại tệ còn đứng trước những thách thức không nhỏ. trong đó có ngoại tệ. Nguồn ngoại tệ từ đầu tư gián tiếp. Các chính sách như thắt chặt tiền tệ. tạo sức ép lên tỉ giá. nhưng vẫn còn cao. Tốc độ tăng CPI tuy đã chậm lại. cung ảo này sẽ biến thành cầu thực khi các khoản vay đến kỳ đáo hạn và sẽ tạo áp lực lên tỉ giá những tháng cuối năm. nên yếu tố lạm phát vẫn hiện hữu. . Sự biến động tỉ giá trong dài hạn tùy thuộc vào mức độ nhập siêu và chỉ số lạm phát của Việt Nam trong tương lai. Nhập siêu liên tục tăng lên trong các tháng đầu năm làm cho cán cân thương mại. sau đó bán ra lấy VND để phục vụ sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên cơ sở pháp lý cho nghiệp vụ phái sinh còn chưa đầy đủ. tuy nhiên chỉ được thực hiện quyền chọn giữa ngoại tệ và ngoại . đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu trong ngành thuỷ sản. làm sao để vừa tranh thủ được các nguồn vốn quốc tế. đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối. mở ra nhiều nghiệp vụ mới. kiều hối. futures. hoán đổi lãi suất. Mặc dù trên thế giới các nghiệp vụ phái sinh để bảo hiểm rủi ro tỷ giá như forward. một số quy định đã thông thoáng hơn.1Thực trạng Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. dệt may.Thực trạng thị trường ngoại hối ở Việt Nam I: Thực trạng và Điều kiện để phát triển các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam 1. Chính vì vậy. chính sách ngoại hối đã có những thay đổi quan trọng. chính sách ngoại hối đóng vai trò rất quan trọng. Nguyên nhân là do lượng lớn ngoại tệ từ các hoạt động đầu tư trực tiếp. cà phê. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề rủi ro tỷ giá. Tuy nhiên cho đến nay. Mặc dù vậy. thậm chí ở một số NHTM mặc dù đã triển khai nghiệp vụ option nhưng không có giao dịch. rõ ràng sẽ có sự biến động về cả lãi suất cho vay và cả tỷ giá hối đoái. các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có thói quen hay nói chính xác hơn là chưa quan tâm tới phòng chống rủi ro đối với các hoạt động ngoại tệ của mình. ở Việt Nam các nghiệp vụ phái sinh vẫn còn sơ khai. thúc đẩy hoạt động thương mại. du lịch. sang năm 2007 và đầu năm 2008. kém phát triển thể hiện ở doanh số giao dịch thấp. swap. các doanh nghiệp này sau khi vay ngoại tệ thường bán số ngoại tệ này chuyển sang VND để tiến hành hoạt động đầu tư dự án. vì trước đây tỷ giá USD/VND thường xuyên ổn định tại mức trần so với giá NHNN công bố. việc ứng dụng các công cụ phái sinh nhằm bảo hiểm rủi ro tỷ giá tại Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn. Trong thời gian qua.. Trong vài năm trở lại đây. ngày 30/09/2003. Tuy nhiên. Trong thời gian tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. gián tiếp nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do: Một là: thiếu nhu cầu thực sự từ phía khách hàng. đến kỳ trả nợ họ phải mua lại số ngoại tệ đó bằng VND. quyền chọn vàng. thực hiện được mục tiêu của chính sách tiền tệ. Hai là:thiếu cơ sở pháp lý. ngoại trừ chỉ có giao dịch hoán đổi lãi suất đã có quy chế của NHNN là Quyết định số 1133/2003/QĐNHNN. tỷ giá USD/VND giảm xuống giao dịch tại mức sàn. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã cho phép các NHTM được thực hiện nhiều nghiệp vụ mới như quyền chọn ngoại hối. thị trường chứng kiến sự biến động và đảo chiều mạnh mẽ của VND so với đồng Đôla Mỹ. đầu tư. Hàng năm các doanh nghiệp Việt Nam đều phải vay ngoại tệ hàng trăm triệu USD hoặc EUR để đầu tư vào các dự án lớn. Mặc dù hiện nay tất cả các NHTM đều được thực hiện nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ. Nếu sử dụng công cụ phái sinh như hoán đổi lãi suất hoặc công cụ kỳ hạn hay quyền chọn về ngoại tệ thì các doanh nghiệp sẽ bảo hiểm được rủi ro lãi suất trong trường hợp nếu lãi suất vay là thả nổi và khi lãi suất thị trường đã tăng lên như hiện nay hoặc bảo hiểm được rủi ro tỷ giá khi ngoại tệ có xu hướng giảm xuống vào thời điểm doanh nghiệp bán ngoại tệ. và các ngành sản xuất. Đây là vấn đề cốt lõi. kiều hối đổ vào các NHTM làm xuất hiện dư thừa ngoại tệ do mất cân đối cung cầu.. option đã được sử dụng phổ biến từ rất lâu với doanh số hàng ngày lên tới hàng trăm tỷ USD. khách hàng không quan tâm tới vấn đề bảo hiểm rủi ro tỷ giá. nhưng lại phải đảm bảo được chủ quyền của đồng Việt Nam. xuất khẩu khác.

Đây cũng là trở ngại lớn đối với các NHTM làm cho doanh số giao dịch quyền chọn rất thấp. NHNN cần có cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt hơn. dễ gây ra tranh chấp khi có sự cố xảy ra. NHNN cần nghiên cứu ban hành những quy tắc cơ bản nhất trong giao dịch phái sinh. người bán cuối cùng. Các NHTM cũng rất muốn triển khai các sản phẩm dịch vụ mới nhưng không thể "cố ép" khách hàng sử dụng khi thực sự họ không có nhu cầu. Thực tế có nhiều NHTM được thực hiện nghiệp vụ quyền chọn ngoại hối từ lâu nhưng đến nay vẫn chưa triển khai được. đội ngũ các nhà quản lý. Ngoài ra cần trang bị thêm những kiến thức và kinh . giám sát và điều hành nhằm hình thành một thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các tổ chức tín dụng là thành viên thị trường. NHNN cần tăng cường hơn nữa vai trò trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. chính xác. Trên thực tế. Tỷ giá thị trường phải biến động tới mức đủ để các doanh nghiệp phải quan tâm chú ý tới vấn đề bảo hiểm rủi ro tỷ giá. 1. Khi sử dụng các công cụ phái sinh doanh nghiệp có được sự lựa chọn về tỷ giá mong muốn. về khách quan. cần tập trung ưu tiên đào tạo và bồi dưỡng cho các cán bộ trực tiếp kinh doanh trên thị trường hối đoái quốc tế về các công cụ phái sinh nói chung và phái sinh ngoại hối nói riêng. các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường chuyển đổi ngoại tệ ra VND để phục vụ hoạt động đầu tư sản xuất trong nước mà hầu như không chuyển đổi từ ngoại tệ ra ngoại tệ. Cho phép các NHTM chủ động thực hiện quyền chọn ngoại hối giữa ngoại tệ và VND khi có nhu cầu phái sinh. Ba là. Đòi hỏi các doanh nghiệp cũng như các NHTM phải có hệ thống thông tin dự báo tỷ giá quốc tế nhanh. vì đây là những sản phẩm mới. Đối với các doanh nghiệp thì việc hiểu biết các công cụ phái sinh để phòng chống rủi ro còn nhiều hạn chế. các giao dịch viên chuyên nghiệp. Đây là cơ sở để NHTM cũng như doanh nghiệp quen dần với các công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá. còn quyền chọn giữa ngoại tệ và VND thì phải được sự cho phép từ phía NHNN. Ngân hàng Nhà nước tham gia thị trường với tư cách là người mua. về phía các NHTM Cần tiếp cận khách hàng.2 Điều kiện để phát triển các công cụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam Từ thực tế trên. để ứng dụng và phát triển công cụ phái sinh tại Việt Nam cần phải có các điều kiện sau Thứ nhất. Hai là. phải có công cụ đo lường và cảnh báo rủi ro tỷ giá. Phát triển các công cụ phái sinh và thị trường phái sinh là giúp cho các doanh nghiệp có thêm cơ hội lựa chọn loại hình giao dịch hối đoái phù hợp với mục tiêu kinh doanh. để có hành lang pháp lý chung cho hoạt động của các NHTM. phức tạp cả về lý thuyết lẫn thực tiễn áp dụng. thiếu kiến thức. cập nhật liên tục.tệ. tổ chức hội thảo để giới thiệu và tư vấn nhằm mục đích vừa nâng cao nhận thức của khách hàng về rủi ro tỷ giá vừa giúp cho khách hàng hiểu biết về các công cụ phái sinh ngoại hối. Mặt khác. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do NHNN tổ chức. Sản phẩm phái sinh trong phòng chống rủi ro là một sản phẩm khá mới và phức tạp đối với thị trường Việt Nam. hiểu biết về công cụ phái sinh. lãi suất. tạo ra một thị trường ngoại hối phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ. Bên cạnh đó. các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ phù hợp với điều kiện thị trường của Việt Nam hiện nay. NHNN cần tiếp tục nới rộng biên độ dao động so với tỷ giá bình quân và thường xuyên điều chỉnh linh hoạt biên độ này cho phù hợp với thị trường hơn. Tránh để các NHTM thực hiện nghiệp vụ mới một cách riêng lẻ theo sự hiểu biết của ngân hàng. dẫn đến tình trạng không thống nhất. thực hiện can thiệp khi cần thiết vì mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia.

38 tỷ USD. tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do có lúc lên sát 19. Lãi suất vay VND sau hỗ trợ chỉ khoảng 5% . Ngân hàng Nhà nước cũng khẳng định có đủ khả năng để can thiệp thị trường khi cần thiết với nguồn ngoại tệ đủ mạnh. điều hành chính sách tỷ giá còn phải đảm bảo hài hòa các lợi ích. cả năm sẽ khoảng 8 . cần trang bị thêm phần mềm xử lý.000 VND. các ngân hàng thương mại đã đồng loạt . nhập siêu chỉ mới ở mức 3. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp lựa chọn giải pháp tìm mua USD thay vì vay USD. với “gợi ý” của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài những phương tiện.22% so với cuối năm 2008.nghiệm về thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ quốc tế. một mục đích khác là sự găm giữ có kỳ vọng tỷ giá sẽ tiếp tục tăng. Hiện dự trữ ngoại tệ ở khoảng trên dưới 22 tỷ USD. phân tích cơ bản trên cơ sở chọn lọc. Những diễn biến này được đặt trong những áp lực cơ bản: nhập siêu tăng kỷ lục và lạm phát tăng rất mạnh. về phương tiện. giúp đỡ cho khách hàng của mình hiểu biết hơn về thị trường ngoại hối. về hệ thống phân tích quản lý rủi ro đối với các công cụ phái sinh nói chung và công cụ quyền chọn ngoại hối. thiết bị. Mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân hàng nước ngoài trên thị trường ngoại hối quốc tế.10 tỷ USD. Một nguyên nhân khác của việc doanh nghiệp không chịu bán lại ngoại tệ là do “tác dụng phụ” của chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn VND. Thông qua đó để có thể tư vấn. thị trường ngoại hối từng có những đợt biến động mạnh và căng thẳng. nhưng những áp lực trên đã không còn quá lớn. nhà điều hành không thể dùng biện pháp tưởng như đơn giản là tung một nguồn ngoại tệ lớn cho thị trường để xoa dịu sự căng thẳng của cầu. trong khi đó tỷ giá USD/VND tăng 6. và việc tung một nguồn ngoại tệ lớn ra thị trường còn có những hệ lụy. Ngoài ra. thị trường ngoại hối cũng căng thẳng. hướng dẫn. Tuy nhiên. Áp lực lạm phát đối với tỷ giá cũng không quá lớn khi nhiều dự báo tin tưởng khả năng chỉ tăng dưới 10%. Vừa qua. bởi theo giải thích của Thống đốc Nguyễn Văn Giàu. Mức tăng của hai chỉ số này vẫn đang đảm bảo yếu tố có lợi và hỗ trợ cho xuất khẩu. chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chỉ tăng 3. Thomson. Những tháng đầu năm 2009. 7 tháng đầu năm. và theo mục tiêu Bộ Công Thương đặt ra. năm nay nhập siêu sẽ dưới 20% kim ngạch xuất khẩu. SowJones News hay Metastock. theo số liệu của Tổng cục Thống kê. Ba là. trong khi vay USD cũng có lãi suất gần tương ứng và còn phải chịu rủi ro tỷ giá khi mua ngoại tệ trả nợ trong tương lai. Cũng trong 7 tháng đầu năm. kỹ năng phân tích kỹ thuật. bởi chính các doanh nghiệp cũng cần ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa phục vụ cho sản xuất để xuất khẩu. Theo phản ánh của các ngân hàng. quản lý rủi ro và tính phí đối với các nghiệp vụ phái sinh. yêu cầu khác của nền kinh tế.. thậm chí chỉ khoảng 7% . có một thực trạng chung là nhiều doanh nghiệp xuất khẩu khi thu ngoại tệ về không chịu bán lại. để tranh thủ sự hỗ trợ về kiến thức.8% trong năm nay. tổng hợp và phân tích thông tin để dự đoán xu hướng diễn biến của thị trường nhằm sử dụng các công cụ phái sinh một cách hiệu quả nhất. hay nói cách khác mức giá các ngân hàng trả theo quy định hiện nay tỏ ra chưa hấp dẫn doanh nghiệp. thiết bị hiện có của Reuters. công cụ tương lai ngoại hối nói riêng.6%/năm. II:Những con số và sự kiện đã sảy ra ở việt nam Năm 2008..22%. Đây là một lựa chọn có mục đích chính là để dự phòng rủi ro tỷ giá trong tương lai (vốn đã có nhiều trường hợp phải trả giá đắt trong năm 2008). rất thấp so với sự đột biến 18 tỷ USD năm 2008.

cùng áp ở mức 17. Đây được xem là một sự điều chỉnh “cân đối” với chính sách biên độ mới. sau hơn tám tháng. doanh nghiệp mua ngoại tệ cũng phải mua giá cao hơn qua nguồn thu phí gián tiếp của ngân hàng. thị trường cho vay. tại thời điểm đó. trước tình hình ngoại tệ của những thành viên trong hệ thống. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện vai trò bán ra hỗ trợ. kịch trần 5% biên độ cho phép theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng.494 VND. nhiều thông tin phản ánh gần đây đề cập đến những trường hợp “lách” trần tỷ giá thông qua ngân hàng thứ ba. biên độ tỷ giá quy định ở mức +/-3% nên giá USD của các ngân hàng thương mại phổ biến chỉ ở dưới 17. Một ví dụ cụ thể là việc giảm mạnh đồng loạt lãi suất cho vay USD vừa qua cũng là một sự tương tác điển hình trong mối quan hệ này. khi sự ách tắc nguồn ngoại tệ găm giữ tại các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn chưa thực sự được tháo gỡ. có ngày giảm gần 10 VND. Tất nhiên.989 VND của ngày 25/12/2008 – ngày mà lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước trực tiếp tăng một bước 3%. khi doanh nghiệp có ngoại tệ không chịu bán. Từ cuối tháng 8 đến nay.những đại diện của thị trường Và ngay cả trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. khi từ ngày 24/3/2009 Ngân hàng Nhà nước bắt đầu nới biên độ từ +/-3% lên +/-5%. Trong lịch sử. Họ buộc phải đi đường vòng bởi “đường thẳng” hiện tại không đáp ứng được yêu cầu của họ. tỷ giá bình quân liên ngân hàng tiếp tục tăng lên mức 16.980 VND và ở mức 16. Tuy nhiên. Tuy nhiên. mà có sự tương tác với thị trường tiền gửi.“Và ngày 10-09-2009: Tỷ giá USD/VND cao nhất trong lịch sử“ Tỷ giá bình quân liên ngân hàng liên tục tăng cao. tỷ giá này chính thức vượt mốc 16. Từ thời điểm đó đến trung tuần tháng 2/2009. Ngân hàng Nhà nước cũng đã tổ chức đàm phán với một số doanh nghiệp lớn với mục đích thúc đẩy việc bán lại USD. theo ý kiến chuyên gia. quản lý của Ngân hàng Nhà nước. tỷ giá bình quân liên ngân hàng cao nhất ghi nhận ở mức 16. Đáp ứng được yêu cầu hợp lý của thị trường là linh hồn của chính sách. Lãnh đạo một vụ chức năng của Ngân hàng Nhà nước từng thừa nhận. Cả hai chiều này đều cho thấy mức tỷ giá hiện hành cùng biên độ không đáp ứng được nguyện vọng của họ .980 VND. Nhưng dường như đây vẫn chưa phải là một cách giải quyết có tính căn bản. có những doanh nghiệp yêu cầu ngân hàng phải mua ngoại tệ của họ cao hơn giá quy định. theo thông tin tại cuộc đối thoại với doanh nghiệp hồi trung tuần tháng 5/2009. Điều này còn thiếu ở chính sách tỷ giá trong thời gian qua. từ mức 16.983 VND. Thời gian gần đây. Cơ chế trần tỷ giá hiện nay chưa tạo được điều kiện để họ hài lòng đến với nhau. giá USD niêm yết của các ngân hàng thương mại đã lên mức cao nhất trong lịch sử.981 VND. Hai thị trường đó cũng nằm trong khả năng điều chỉnh. để điều hòa được mối quan hệ này theo các mục đích định sẵn. Ngày 9/9. vay USD cho ngân hàng.500 VND. năng lực của nhà điều hành luôn là một yếu tố có tính quyết định. tỷ giá bình quân liên ngân hàng bắt đầu giảm mạnh.giảm mạnh lãi suất cho vay USD xuống phổ biến dưới 3%/năm để có thể tạo hấp dẫn đối với doanh nghiệp vay vốn. Từ cuối tháng 3/2009. Ở một giải pháp khác. Yếu tố thị trường trong cơ chế này cũng không cô lập. doanh nghiệp mua ngoại tệ tìm kiếm khó khăn. ngoại tệ thứ ba. tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố liên tục tăng. góp phần giải vây cho thị trường ngoại hối. tỷ giá bình quân liên ngân hàng được áp dụng quanh mốc 16. đây chỉ là một giải pháp tình thế và cục bộ. Giá USD mua vào – bán ra của các ngân hàng thương mại niêm yết sáng nay cũng đồng loạt lên mức cao nhất từ trước tới nay. Từ .832 VND. trước khi siết chặt quản lý. Sáng nay (10/9).

4.Để bên mua . doanh nghiệp và người dân cũng đã bắt đầu bán ra USD thay vì chủ yếu găm giữ trước đó. chỉ số giá USD tháng 8/2009 đã tăng 6. quan hệ cung . Trong tháng 7 và 8 vừa qua. Thị trường đang cần một môi trường để bên mua . một số ngân hàng đã đẩy mức cao nhất lên đến 4% . theo lãnh đạo của một ngân hàng có thị phần thanh toán quốc tế lớn nhất hiện nay. Trong báo cáo tổng kết thị trường tuần qua. không “neo” chủ yếu vào đồng USD như hiện nay. tăng 8. Nhưng. ở một mức giá có được sự đồng thuận. Lãi suất huy động USD từ cuối tháng 8 đến nay cũng đã tăng khá mạnh. có những doanh nghiệp yêu cầu ngân hàng phải mua ngoại tệ của họ cao hơn giá quy định. tình hình cung – cầu ngoại tệ trên thị trường đã bớt căng thẳng. nhiều thông tin phản ánh gần đây đề cập đến những trường hợp “lách” trần tỷ giá thông qua ngân hàng thứ ba. doanh nghiệp mua ngoại tệ tìm kiếm khó khăn. lần lượt tăng 1.Đa dạng hóa ngoại tệ trong thanh toán.36% so với tháng 12/2008. áp dụng các biện pháp can thiệp thích hợp để thị trường ngoại hối hoạt động tích cực hơn”. tỷ giá bình quân liên ngân hàng bắt đầu tăng trở lại. trước khi siết chặt quản lý.cầu .cuối tháng 7 trở lại đây. . . Và ở đây. nhà nhập khẩu trong nước phải đáp ứng. Điều này còn thiếu ở chính sách tỷ giá trong thời gian qua.95% so với cùng kỳ năm 2008. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì thông điệp “đang tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường. khi doanh nghiệp có ngoại tệ không chịu bán. Cả hai chiều này đều cho thấy mức tỷ giá hiện hành cùng biên độ không đáp ứng được nguyện vọng của họ .những đại diện của thị trường.2% và 1. ngoại tệ thứ ba. điều đó cũng khó thực hiện theo ý muốn chủ quan.Tạo cơ chế mua đứt bán đoạn thay cho tín dụng ngoại tệ nhằm nâng cao tính chủ động của doanh nghiệp. Cơ chế trần tỷ giá hiện nay chưa tạo được điều kiện để họ hài lòng đến với nhau. doanh nghiệp mua ngoại tệ cũng phải mua giá cao hơn qua nguồn thu phí gián tiếp của ngân hàng. .bên bán thực sự gặp nhau Đáp ứng được yêu cầu hợp lý của thị trường là linh hồn của chính sách. Nhu cầu vay ngoại tệ của doanh nghiệp cũng đã tăng lên. Trong suốt những biến động từ đầu năm.15%/năm.Làm thế nào để khơi thông cho được nguồn ngoại tệ ứ đọng tại các doanh nghiệp xuất khẩu.Cho phép doanh nghiệp được phát hành trái phiếu ngoại tệ để huy động ngoại tệ trôi nổi trong nền kinh tế và ngoại tệ được coi là thừa của ngân hàng thương mại. việc đẩy giá mua vào bằng đúng giá bán ra cũng đã kéo dài kể từ ngày 11/6/2009 trở lại đây. Lãnh đạo một vụ chức năng của Ngân hàng Nhà nước từng thừa nhận. Trong tháng 8 vừa qua. Và ngay cả trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. ngân hàng và tính thị trường trong quan hệ ngoại hối. giải pháp .52%. . nhưng do có biên độ lớn hơn nên giá USD của các ngân hàng đã lên mức cao nhất từ trước tới nay. điều hành tỷ giá ổn định. đáp ứng nhu cầu của cả hai bên.bên bán thực sự gặp nhau. hầu hết ở các thời điểm tỷ giá USD/VND của các ngân hàng thương mại đều ở sát trần biên độ cho phép. Họ buộc phải đi đường vòng bởi “đường thẳng” hiện tại không đáp ứng được yêu cầu của họ. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê. tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ (chủ yếu bằng USD) đã tăng khá nhanh. bởi phần lớn các đối tác bán hàng bên ngoài đều yêu cầu thanh toán bằng USD. hiện vẫn thấp hơn so với những ngày cuối năm 2008. theo thông tin từ lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước.

Tất nhiên. Tất nhiên. . mà có sự tương tác với thị trường tiền gửi. để điều hòa được mối quan hệ này theo các mục đích định sẵn. theo ý kiến chuyên gia. Hai thị trường đó cũng nằm trong khả năng điều chỉnh. điều tiết. quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Một ví dụ cụ thể là việc giảm mạnh đồng loạt lãi suất cho vay USD vừa qua cũng là một sự tương tác điển hình trong mối quan hệ này. năng lực của nhà điều hành luôn là một yếu tố có tính quyết định. điều này không đồng nghĩa với sự thả nổi. Yếu tố thị trường trong cơ chế này cũng không cô lập.sẽ hình thành mức giá hợp lý. thị trường cho vay. định hướng cung . góp phần giải vây cho thị trường ngoại hối. mà nhà điều hành chính sách là người mua và bán cuối cùng.cầu thông qua những lực lượng sẵn có.

lượng USD vào nước ta sẽ tăng khá so với năm trước.Nguồn thu từ khách quốc tế đến Việt Nam gia tăng trở lại (tháng 1 tăng 20. Bán ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại có trạng thái dưới 5%.4%).Trong bối cảnh nguồn ngoại tệ ròng vào VN là + trong 4 tháng đầu năm thì dườngnhư yếu tố chính khiến cho tỷ giá USD/VNĐ tăng mạnh lại là do sự găm giữ ngoại tệ. Vốn hỗ trợ phát triển chính thức do năm trước cam kết. tổng công ty lớn của Nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng. .Nguyên nhân là do: Nguồn cung USD có thể sẽ tăng khá từ các nguồn: Từ nước ngoài. như: Tăng tỷ giá liên ngân hàng đồng thời với việc giảm biên độ giao dịch từ ±5% xuống còn ±3%. đặc biệt sau khiNHNN thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá lên +/-5% khiến cho tỷ giá ngoại tệ liênNH đã có đợt tăng đột biến và giao dịch trên TTTD tiến sát mức 18000đồng/USD.900-19.3%). Năm 2010: Giá USD đã tăng khá mạnh trong 2 năm 2008 và 2009. sức ép tâm lý găm giữ USD do lo sợ rủi ro tỷ giá giảm.Diễn biến tỷ giá VNĐ/USD trong năm 2009 và đầu năm 2010 Năm 2009: Tỷ giá USD/VNĐ lại tiếp tục tăng đà tăng trong 4 tháng đầu năm.100 đồng /USD) và đang có xu hướng giảm do nhưng chínhsách tích cực từ phía NHNN. Ngân hàng Nhà nước đã có những giải pháp “vượt trước ngăn chặn” với nhiều động thái để giảm sức ép tăng tỷ giá. sang đến tháng 1. Nguồn kiều hối từ Việt kiều và từ lao động làm việc ở nước ngoài gia tăng.479 đồng/USD cho đến giữa tháng 2/2010. chênh lệch giữa giá thị trường tự do với giá niêm yết trên thị trường chính thức đã giảm đáng kể. Yêu cầu các tập đoàn và tổng công ty lớn của nhà nước bán lại ngoại tệ cho ngân hàng. Ngoài ra. từ cuối năm 2009 đến nay. kể cả nguồn vốn đầu tư trực tiếp (thực hiện tháng 1 tăng 33.000đồng/USD (18. Kim ngạch xuất khẩu chuyển từ tăng trưởng âm sang tăng trưởng dương…Bên cạnh đó. ký kết đạt mức kỷ lục. Vốn đầu tư gián tiếp khi các nhà đầu tư nước ngoài liên tục mua ròng trên thị trường chứng khoán. các tập đoàn.2010 lại giảm nhẹ và tiếp tục dao động quanh mức 18. Hạ 3% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi USD… -Từ giữa tháng 2/2010 đến nay : tỷ giá tăng và dao động quanh mức 19.

000 tỷ đồng) cho các ngân hàng thương mại để cho vay trên thị trường. chỉ hơn nửa tháng sau đó. hỗ trợ các ngân hàng cải thiện trạng thái ngoại tệ vốn căng thẳng trước đó. . từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng đã làm tăng nguồn vốn khoảng 500 triệu USD (9. tổng công ty lớn của Nhà nước bán lại ngoại tệ cho các ngân hàng. ngày 18/1/2010.544 VNĐ/USD.Ngày 11/02 Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ mức 17. Thứ hai. Ngân hàng Nhà nước chính thức ban hành thông tư hướng dẫn việc các tập đoàn. Việc bán lại được thực hiện khá nhanh sau đó và tạo một nguồn cung đáng kể. Nguyên nhân: Thứ nhất. với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.941 VNĐ/USD lên mức 18. Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng. ngày 30/12/2009. Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 74/QĐ-NHNN giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful