ĐIỀU CHỈNH CÁC CÔNG THỨC TÍNH IRR VÀ NPV

Tác giả: Thạc Sĩ Nguyễn Trường Sơn Địa chỉ: 2/1/11 Bình giả,P. 13, Quận Tân Bình Tóm Tắt
Hiện nay, để đo đạc hiệu quả các dự án người ta sử dụng nhiều phương pháp như phương pháp thời gian hòa vốn, phân tích lợi nhuận – chí phí, lợi nhuận kế toán v.v. Trong đó, việc tính toán hiệu quả dự án bằng phương pháp chiết khấu dòng tiền thông qua hai chỉ số chính là hiện giá thuần của dòng tiền (NPV) và suất sinh lời nội bộ (IRR) đã được giảng dạy rộng rãi trong các trường Đại học cũng như được ưa chuộng và sử dụng phổ biến trong thực tế vì tính hữu dụng và hiện đại của chúng. Tuy nhiên, trong quá trình tính toán, hai chỉ số này đã lộ ra những nhược điểm chính là khi áp dụng vào một số dự án chúng cho ra kết quả không chính xác hoặc mâu thuẫn trong kết quả hoặc chúng không thể đo lường được kết quả của dự án. Nhược điểm này làm mất đi rất nhiều ưu điểm của công cụ này và gây ra không ít trở ngại cho việc đo đạc dự án. Vì với tính chất công cụ như vậy, rõ ràng là ta phải kiểm tra lại kết quả dự án sau mỗi lần đo đạc và nếu trong trường hợp không đo được hiệu quả dự án bằng công cụ trên thì ta lại phải tìm một công cụ khác để đo đạc. Để khắc phục nhược điểm của công cụ đo đạc trên, bài viết sẽ đi sâu vào phân tích các công thức tính NPV và IRR bằng lý thuyết tài chính về dòng tiền để tìm ra những thiếu sót, sai lầm trong các công thức này, qua đó cũng dựa trên lý thuyết tài chính về dòng tiền đề ra việc chỉnh sửa các công thức này lại theo hướng hoàn thiện hơn nhằm giúp các công thức này có thể tính toán hiệu quả của bất kz các loại dự án với kết quả chính xác hơn. Với việc điều chỉnh các công thức tính NPV và IRR, các công thức tính mới đã được áp dụng vào các trường hợp cụ thể mà các công thức củ không thể tính toán được hoặc đã tính được mà cho ra kết quả mẫu thuẫn. Bài viết cũng thử tính thêm vài trường hợp để chứng minh công thức củ đã không cho kết quả chính xác so với các công thức vừa điều chỉnh, bằng cách so sánh kết quả đã tính với kết quả của các công thức đo hiệu quả dự án tương đương như công thức tính lợi nhuận kế toán, công thức tính suất sinh lời nội bộ biến đổi MIRR trong excel. Qua kết quả điều chỉnh các công thức tính hiện giá dòng tiền (NPV) và suất sinh lời nội bộ (IRR), hai công thức này đã khắc phục được những nhược điểm vừa nêu ra và đã trở thành những công cụ đo lường hiệu quả dự án hoàn chỉnh hơn và chính xác hơn, có tầm áp dụng mở rộng cho việc đo đạc toàn bộ các dự án không phân biệt chúng được cấu trúc theo dòng tiền như thế nào đi nữa. Ngày 29 tháng 06 năm 2011 Tác giả: Th.S Nguyễn trường Sơn

1

Tân Bình Distrist. HCM city SUMARY Currently. accounting rate of return (ARR) method. we must find another. this article will analyze NPV and IRR formulas in the theory of financial cash flow to find flaws or errors in that formula. However. Nguyễn Trường Sơn Address: 2/1/11 Bình Giã Str. 2011 Author: MBA.also based on financial theory on the premise. Nguyen Truong Son 2 . Because of the nature of such tools. the calculation of effectiveness by discounted cash flow method through two main indicators of cash flow: net present value (NPV) and internal rate of return (IRR) has been widely taught in the Universities as well as popular and widely used in practice because of their usefulness and modernity. By adjusting that formulas NPV and IRR. And then.Author: MBA. When we apply to a number of projects they produce incorrect results or inconsistencies in the results or we can not measure results of the project. To prove the inaccuracy of previous formulas. the article has also tried to apply the new formulas on additional cases with the result that is the same by comparing to the accounting rate of return method and the formula of modified internal rate of return MIRR in Microsoft Excel After adjusting formulas present value of cash flow (NPV) and internal rate of return (IRR). that new formulas has been applied in case that the previous formulas can not be calculated or is calculated to produce results that conflict. it is clear that we must re-examine the project results after each measurement and in case of non measurable with this tool. Ward 13. To overcome the disadvantages of the measurement tool.profit analysis. the two indicators has revealed that the main drawbacks. The downside is losing a lot of advantages of the tool and cause many problems for the measurement project. in the calculation. suggesting the way to manipulate these formulas so they can calculate the effectiveness of any cases with better results. two formulas have overcome the aforementioned disadvantages and have become the tools by which the effectiveness of project is evaluated more complete and more accurate and they have a wide range of application for the measuring of all projects. to measure the effectiveness of the project we use several methods as payback period method. cost. 06 May 29. In particular. etc. regardless of their construction of cash flows.

1 Bài toán 01 (Công thức IRR không cho giá trị IRR): Cho dự án có các dòng tiền như sau: Năm 0 .000 Năm 2 5.20. NHỮNG HẠN CHẾ CỦA CÁC CÔNG THỨC CHIẾT KHẤU DÒNG TIỀN Phương pháp chiết khấu dòng tiền từ lâu đã được sử dụng rộng rãi để tính toán hiệu quả của dự án thông qua hai chỉ số chính là hiện giá thuần của dòng tiền (NPV) và suất sinh lời nội bộ (IRR) theo các công thức tính như sau: ∑ ∑ Với: Các công thức này tỏ ra rất hữu dụng khi áp dụng để tính toán hiệu quả hầu hết các dự án. Để minh họa cho phát biểu này chúng ta hãy cùng xem xét 02 bài toán sau: I. Cụ thể là khi áp dụng vào một số các dự án.000 Năm 4 Năm 5 .I.000 1.000 Năm 3 15.000 ( ) IRR được tính từ phương trình sau: =0 3 . tuy nhiên trong một số trường hợp các công thức này bộc lộ những hạn chế nhất định.000 Năm 1 15.20. các công thức này không cho ra được các giá trị IRR hoặc cho ra những trị số NPV và IRR không tin cậy.

156 < 0 còn nếu yêu cầu suất sinh lời lớn hơn là 67% thì NPV = 55> 0.25. với dự án trên.000 Để tính IRR của dự án ta áp dụng công thức tính như sau: Giải phương trình trên bằng công cụ goal seek trên excel ta thấy dự án này sẽ có hai suất sinh lời nội bộ (IRR).000 .20. Vậy có những sai sót nào trong các công thức chiết khấu dòng tiền vừa nêu trên khiến công cụ này bị hạn chế như thế? Bài viết này nhằm tìm cách phát hiện sai sót và điều chỉnh các công thức tính IRR và NPV của phương pháp chiết khấu dòng tiền để mang đến tính khả thi cũng như về độ chính xác của các công thức này.85%  IRR2 = 66. I.2 Bài toán 02 (Công thức IRR cho ra nhiều giá trị và NPV cho giá trị mâu thuẫn): Cho dự án với những dòng tiền như sau: Năm 0 Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5 . nếu yêu cầu suất sinh lời nhỏ 11% thì NPV = .000 . Đây là một nghịch lý không thể chấp nhận.000 12. 4 . Thí dụ này cho ta thấy các công thức tính IRR và NPV đã cho ra những chỉ số NPV và IRR không chính xác đối với dự án trên.000 35.  IRR1 = 10.Như vậy công thức không tính được suất sinh lời dự án là bao nhiêu %. Qua 02 ví dụ vừa rồi.50. Thí dụ.000 45. đã minh chứng cho sự không hoàn thiện của của các công thức chiết khấu dòng tiền NPV và IRR khi áp dụng vào những dự án như trên.88% Khi dự án có nhiều suất sinh lời nội bộ thì rất khó chọn suất sinh lời nào sẽ được sử dụng và khi đó giá trị NPV cũng sẽ thay đổi thất thường không đáng tin cậy.Giải phương trình này sẽ cho kết quả IRR là vô nghiệm.

năm i. 1 Phát hiện điểm chưa hoàn thiện của các công thức tính IRR. Do vậy. - là suất sinh lời mong muốn của dự án và PVi là hiện giá của dòng tiền tại Với dòng tiền âm (dòng tiền góp vào dự án) CF2 CF0 CF4 X T CF3 5 . NPV Để giải quyết vấn đề này trước hết ta xem lại cách chiết khấu dòng tiền của dự án kéo dài 5 năm trong bài toán 02 ở trên.II. ta có thể tính hiện giá của dòng tiền này như sau: Trong đó. Với dòng tiền dương (dòng tiền ra khỏi dự án) 0 X 1 2 3 4 5 T CF1 CF3 CF5 Các dòng tiền ảnh hưởng chính đến suất sinh lời r của dự án. ĐIỀU CHỈNH CÁC CÔNG THỨC CHIẾT KHẤU DÒNG TIỀN II.

Sử dụng su t chi t kh u c a dòng ti n âm khác với su t chi t kh u c a dòng ti n dương chính l i m khác biệt chính y u trong phương pháp mới n y tính toán IRR cũng như NPV nhằm h n ch những khuy t i m c a phương pháp tính chi t kh u trước ây. Đi u i m chưa ho n thiện này sẽ dẫn n những k t quả tính toán h n ch như trên. Cơ sở lý luận tài chính của việc sử dụng nhiều suất chiết khấu trong dự án là mỗi dòng tiền đều có một tỷ suất chiết khấu riêng phù hợp với tính chất của chúng và với chiết khấu này dòng tiền có thể được chiết khấu về bất kỳ thời điểm nào trong dự án.Dòng tiền âm phát sinh tại một thời điểm là dòng tiền góp vào dự án tại thời điểm đó. không phụ thuộc vào suất sinh lời r của dự án. hiện giá của những dòng tiền âm sẽ được tính theo công thức như sau: Trong đó. người ta có thể dự trù dòng tiền này vào năm đầu có dự án và có thể gởi vào ngân hàng với lãi suất thông thường không rủi ro. suất chiết khấu của những dòng tiền đầu tư này là suất sinh lời phổ biến của thị trường với rủi ro thấp nhất (lãi suất ngân hàng). IRR là chỉ sử dụng một su t chi t kh u duy nh t áp dụng cho t t cả các dòng ti n dù chúng là âm hay dương hoặc nói rộng ra dù những dòng ti n này có tính ch t th n o i nữa thì chúng chỉ có 1 su t chi t kh u duy nh t. do vậy. khi tính hiện giá của dòng tiền này ta không thể chiết khấu nó với suất sinh lời r của dự án được. 6 . để chiết khấu nó về thời điểm hiện tại (năm 0). là lãi suất vay hoặc là lãi suất ngân hàng và PVi là hiện giá của dòng tiền tại năm i. Do vậy. Như vậy. Thông thường. Như vậy. i m chưa ho n thiện trong các công thức tính NPV. Dòng tiền này có suất chiết khấu riêng phụ thuộc vào tính chất của nó. để có được dòng tiền này vào thời điểm cần thiết.

Thí dụ: Dòng tiền vay phải có suất chiết khấu bằng với lãi suất cho vay. Tổng quát ta sẽ viết lại công thức tính IRR và NPV theo cách mới như sau: ∑ ∑ Trong đó: - ∑ ( ) ( ) ( ) ớ í ằ Nếu xem dòng tiền dương mang suất chiết khấu là suất sinh lãi của dự án và dòng tiền âm mang suất chiết khấu là lãi vay ngân hàng thì các công thức trên có thể viết lại đơn giản như sau: ∑ ∑ ∑ ∑ ∑ Trong đó: â ∑ ươ ( ( ươ ươ ) ) 7 . Dòng tiền đầu tư nhiều giai đoạn có suất chiết khấu bằng với lãi suất huy động Dòng tiền dương sinh ra bởi dự án có suất chiết khấu bằng suất sinh lời của dự án Việc xác định chính xác tỷ suất chiết khấu của từng dòng tiền sẽ phản ánh đúng đắn mức độ ảnh hưởng của chúng trong dự án.

- à ấ ờ ố í ằ ớ Trong trường hợp dự án chỉ có một dòng tiền đầu tư ở thời gian đầu của dự án và các dòng tiền phát sinh trong những năm sau đó đều là dòng tiền dương thì công thức tính NPV và IRR sẽ là công thức trước đây: ∑ ∑ Với là dòng tiền tại thời điểm i Như vậy công thức tính NPV và IRR trước đây là một trường hợp riêng của các công thức mới này II.000 Năm 3 15.000 Khi tính bằng công thức trước đây: Sẽ cho kết quả IRR là vô nghiệm.000 Năm 1 15. 2 Áp dụng công thức mới để giải quyết các hạn chế của công thức tính trước đây: II.000 1.000 Năm 4 Năm 5 .20.1 Giải quyết trường hợp không tính được IRR Trở lại bài toán không có nghiệm IRR như sau: Năm 0 .000 Năm 2 5. 2. 8 .20.

với dự án có những dòng tiền như sau: Năm 0 Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5 . 9 .000 35. ta có thể kết luận dự án này có suất sinh lời nội tại là 6.25.2 Giải quyết trường hợp tính IRR và NPV không chính xác Trở lại ví dụ 02 trên.000 45. 2.000 . ta sẽ tính suất sinh lời nội bộ theo phương pháp mới như sau: Nếu suất sinh lời của dòng tiền đầu tư là 14% thì IRR của dự án chỉ có một giá trị duy nhất là 14.88% Dùng lãi suất huy động của ngân hàng trung bình là 14% cho dòng tiền âm.000 . 17% Như vậy. 17% II.85%  IRR2 = 66.40% Áp dụng công thức tính NPV mới - Nếu r = 14% thì NPV của dự án sẽ là NPV = 489 > 0. dự án này có 2 trị số IRR  IRR1 = 10.000 12.50.000 Với phương pháp chiết khấu dòng tiền trước đây.20.Khi tính bằng công thức mới với suất huy động của dòng tiền âm là 14% theo công thức sau: Kết quả thu được IRR = 6.

000 -10. 1 Ưu điểm của các công thức mới: Dùng các công thức mới trên sẽ loại trừ được tất cả các trường hợp IRR đa trị đưa đến một kết quả IRR duy nhất mới hợp lý hơn. do vậy phương trình (2) luôn có nghiệm và chỉ có 01 nghiệm IRR duy nhất.000 -30. Giả sử ta đặt giá trị này là – PVA.- Nếu r = 15% thì NPV sẽ là NPV = . Chứng minh: Ta có: Dòng tiền đầu tư ban đầu – Dòng tiền đầu các năm sau + dòng tiền dương của dự án = 0 (1) Dòng tiền đầu tư ban đầu – Dòng tiền đầu tư các năm sau có giá trị âm và có giá trị xác định khi ta xác định được suất chiết khấu .000 5. Như vậy phương trình trên có thể viết lại như sau: Dòng tiền dương của dự án = PVA (3) Công thức của dòng tiền dương của dự án có dạng sau: Phương trình (3) là hàm số đơn điệu. Hàm NPV(r) là hàm số đồng biến do vậy chỉ có tồn tại một nghiệm duy nhất mà thôi.000 Hiện giá ròng (NPV) 0 0% -5.000 -25. III. Đồ thị NPV(r) 10. có giá trị từ + ∞ đến 0 với x đi từ 0 đến + ∞. KẾT LUẬN III. Khi r tăng thì NPV giảm và ngược lại điều này đúng với bản chất của NPV. Có thể kiểm lại cách tính này trên đồ thị.000 -20.000 -15.000 Suất sinh lời (r) Series1 20% 40% 60% 80% 100% 120% 140% 160% 10 .731 < 0.

Sau đây là một ví dụ điển hình giúp chứng minh tính chính xác và hợp lý của công thức mới o Cho dự án đầu tư nhiều giai đoạn với các dòng tiền như sau: Năm 0 1 -450 800 2 3 500 -500 4 5 500 -500 6 -200 7 500 8 -1000 9 800 10 500  Tính IRR theo công thức trước đây ta được: IRR = 111.4% với lãi suất r0 = 14%  Tính theo MIRR trong excel ta được MIRR = 17% với lãi suất đầu tư lại là r = 14%  Tính theo lợi nhuận kế toán: Tiền thu được/Tiền đầu tư = 3. NGUYỄN TRƯỜNG SƠN 11 . IRR mới được xây dựng mang tính tổng quát có thể áp dụng để tính toán IRR. III. IRR tính theo công thức mới gần với lợi nhuận kế toán và MIRR hơn và không có khoảng cách quá xa như tính bằng công thức củ. 2 Khuyết điểm của các công thức mới: Phải sử dụng mỗi tỷ suất chiết khấu cho dòng tiền mỗi dòng tiền Phương pháp tính các chỉ số mới sẽ phức tạp hơn. với những ưu điểm và khuyết điểm trên. các công thức này hoàn toàn có thể áp dụng để tính toán IRR và NPV của mọi dự án với những giá trị đo đạc khả thi và chính xác hơn.27%  Tính IRR theo công thức mới ta được : IRR = 23.600/2650 = 36%  Như vậy. NPV cho tất cả dự án mà trong dự án này những dòng tiền có cấu trúc bất kỳ.- - Các công thức tính NPV. Ngày 20 tháng 06 năm 2011 Tác giả ThS. Tuy nhiên.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful