NITƠ VÀ PHOSPHO TRONG MÔI TRƯỜNG

TS. LÊ THỊ HI ỀN THẢO Trường Đại học Xây dựng Đa số nitơ và phospho tồn tại trong môi trường dưới dạng chưa sử dụng được ngay cho sinh giới. Trong tự nhiên, do sự hoạt động của các vi sinh vật, nitơ và phospho được chuyển hoá thành các các muối hoà tan và được SV sử dụng. Sự chuyển hoá của nitơ và photpho trong môi trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố ảnh hưởng như: pH, sự phân tầng nước, nhiệt độ, độ mặn... Tuy nhiên, nếu trong nước và thực phẩm hàm lượng nitơ và photpho, đặc biệt là nitơ dưới dạng muối nitrit và nitrat cao quá sẽ gây ra một số bệnh nguy hiểm cho người đặc biệt là trẻ em. 1. Tập tính của nitơ và phospho trong môi trường a. Nitơ Đa số nitơ và phospho tồn tại dưới dạng chưa sử dụng được ngay cho sinh vật. Trong khí quyển, nitơ chủ yếu tồn tại dưới dạng nitơ phân tử (N2). Trong trái đất, đa số nitơ nằm bất động trong đá và đất. Việc cung cấp nitơ và các chu trình vật chất trong tự nhiên phụ thuộc nhiều vào quá trình phân huỷ sinh học các hợp chất chứa nitơ và phospho trong môi trường. Sự trao đổi và phân huỷ sinh khối khác nhau đáng kể giữa các nơi sống, kích cỡ và hoạt động sống của các quần xă vi sinh vật (VSV) và nấm: Trong các môi trường nóng ẩm và có đủ oxy, sự phân huỷ và giải phóng chất dinh dưỡng diễn ra nhanh chóng (ở vùng nhiệt đới, thời gian tồn tại của cacbon trong lá cây là 3 tháng); rừng ôn đới từ 4-16 năm; trong khi đó ở các hệ Bắc bán cầu có thể tới hơn 100 năm). Sự phân huỷ thường rất hạn chế bởi lượng nitơ có sẵn. Tỷ lệ trung bình của C:N trong sinh khối VSV xấp xỉ 10:1; Thực vật (TV) có tỷ lệ C:N là 40-80:1 nghĩa là có sự thiếu hụt nitơ; Động vật (ĐV) duy trì tỷ lệ C:N gần bằng tỷ lệ của VSV phân huỷ, gây phân hủy nhanh. Trong đất, tỷ lệ C:N ổn định nhất, vào khoảng 10. Theo Begon (1990), khi một chất có hàm lượng N < 1,2-1,3 % được bổ sung vào đất thì bất kỳ ion NH4+ nào cũng được hấp thụ, khi các chất có hàm lượng N > 1,8% được bổ sung, thì các ion NH4+ có xu hướng được giải phóng. Toàn bộ nitơ trong chu trình nitơ sinh học diễn ra chủ yếu qua hoạt động cố định đạm của các vi khuẩn (VK) sống trong cây, các tảo lục và các VK cộng sinh trong rễ của một số loài thực vật (ví dụ Rhizobium có ở trong nốt sần của rễ một số loài họ đậu). Những sinh vật (SV) này có khả năng chuyển hóa N2 thành NH4+, mặc dù chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ dòng nitơ trên toàn cầu, quá trình cố định đạm là nguồn cung cấp nitơ cao nhất cho cả 2 nơi sống ở cạn và ở nước. NH4+ chỉ được các thực vật sử dụng hạn chế, hầu hết nitơ được tích luỹ dưới dạng NO3-. Việc chuyển hóa nitơ hữu cơ gồm 4 giai đoạn: - Amon hóa: nghĩa là thủy phân protein và oxy hóa các axit amin thành NH4+. - Nitrit hóa: NH4+ tự do được oxy hóa nhờ VK sống trong cây dưới đất (Nitrosomonas) và dưới biển (Nitrosococcus) từ N3- thành N3+, cho NO2-.

Do sự xuất hiện của ion Fe3+ và nhôm trong đất. . Khả năng lưu động của các ion chính trong đất tăng theo thứ tự PO43. Dưới dạng này nitơ được các TV sống trên cạn và dưới nước sử dụng.> Cl-.Nitrat hóa: NO2. quá trình cố định nitơ và khử nitrat cân bằng trên quy mô toàn cầu và chiếm khoảng 2% tổng nitơ tuần hoàn. ở dạng này dễ được các TV ở cạn và ở nước hấp thụ. do đó các chất dinh dưỡng tầng trên có thể bị cạn kiệt làm hạn chế năng suất tảo. Động vật bài tiết lượng phospho trong thức ăn ở dạng phosphat qua nước tiểu. sự thay đổi nhiệt hình thành và phát triển và quá trình này bị .có khả năng lưu động cao và rò rỉ nhanh từ đất.được oxy hóa tiếp do VK Nitrobacter trong đất và nước biển cho NO3. nên lượng phospho hòa tan rất thấp trong điều kiện axit. Khi môi trường không có oxy. . Quá trình thay đổi nhiệt như một rào cản quan trọng đối với sự lan tỏa và vận chuyển các chất giữa 2 tầng nước. Trong đó NO2.và NO3. ở trong nước. trả lại nitơ cho khí quyển. phospho có mặt trong không khí có liên quan với các chất dạng hạt. nhưng do quá trình suy giảm ánh sáng và phân tầng nước mà quá trình sinh học hấp thụ dinh dưỡng và tái tạo dinh dưỡng diễn ra khác nhau theo độ sâu.< SO42. quá trình này bẻ gãy các hợp chất phosphat hữu cơ giải phóng ra ion phosphat. phospho có khả năng lưu động chậm trong đất. cặn lắng. Trong điều kiện hiếu khí có Ca. Theo Hardy và Havelka (1975).. Al và ion Fe thì phosphat tan nhiều nhất ở pH = 6-7. có thể giải phóng Fe3+. Nitơ được cố định gần bề mặt đất có thể bị mất do khử nitrat hóa. của cặn lắng và nước.) sẽ diễn ra quá trình khử nitrat. khi mặt nước ấm lên. Phospho Phospho tồn tại trong môi trường chủ yếu dưới dạng octophotphat (PO43-) có hóa trị 5+. Việc hình thành sự thay đổi nhiệt ở vùng nước ôn đới diễn ra theo mùa.Trong điều kiện pH cao (môi trường kiềm): phospho hình thành các hợp chất không hoà tan khác nhất là canxi (ví dụ hydroxyapatite Ca10(PO4)6(OH)2). chu trình nitơ và phospho sinh học cũng diễn ra tương tự như ở trên cạn. b. Do tính phản ứng của phosphat. Các hợp chất dễ bay hơi không tham gia vào chu trình sinh địa hóa của phospho. Sự phân tầng tạo thành sự thay đổi nhiệt và sự thay đổi độ mặn của các vůng nước.(thể N5-). NO3. Mức độ và tốc độ di chuyển phụ thuộc vào khả năng phát sinh tự nhiên của đất và dạng phosphat. chu trình diễn ra trong các thành phần sinh quyển trên cạn và dưới nước. Phospho cố định trong sinh giới được giải phóng khi bị phân huỷ do hoạt động của các VK phosphat hóa.ở pH thấp (môi trường axit): phospho gắn chặt với các hạt sét và tạo thành các chất tổng hợp không tan với ion sắt (ví dụ Fe(OH)2H2PO4) và nhôm (Al(OH)2H2PO4). nhưng nếu khả năng hấp thụ phosphat của đất bị vượt quá thì phospho sẽ nhanh chóng chuyển xuống lớp đất sâu hơn và tập trung vào dòng chảy dưới lớp đất mặt. giảm thành Fe2+ và tạo thành sunfit sắt. Quá trình này xảy ra do các VK như Pseudomonas denitrificans. Khi một thủy vực bị phân tầng.Khử nitrat: trong điều kiện không có oxy (ngập úng... Mặc dů phosphat đuợc coi là cố định cao trong đất.được các VK sử dụng làm chất nhận electron (chất gây oxy hoá) và chuyển thành N2. Hiện tượng phân tầng nước thay đổi theo můa và khác nhau ở các vùng khí hậu.< NO3. Từ mùa xuân đến můa hč. Khả năng tồn tại của phosphat sinh học hoàn toàn phụ thuộc vào pH: . Trong khi đó ngược lại. phospho được cố định là các phức hợp sắt không tan. quá trěnh xáo trộn giữa tầng mặt và tầng sâu diễn ra rất ít.

thường gây chết cá. làm đường cong oxy giảm xuống. Những thay đổi về chất lượng nước được phản ảnh qua hệ các sinh vật chỉ thị ở nước: ở gần điểm xả. Những thay đổi chủ yếu diễn ra trong thành phần các loài TV nổi (phytoplankton). Các hệ TV này là thức ăn cho các hệ ĐV hồ. quá trình này gây ra sự giảm oxy dưới hạ lưu. Đặc biệt là vào mùa xuân. Lượng chất hữu cơ này được đánh giá qua Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) và nhu cầu oxy hóa học (COD). Do các loài "nở hoa" thường gây độc cho người và ĐV nuôi nên phải cẩn thận. Hiện trạng ô nhiễm tự nhiên chủ yếu được xác định bằng độ màu mỡ của lưu vực chứa nước. gây tổn thất cho hệ đại TV (Marcrophyte) mọc dưới nước. ở các vùng nước nông. Quá trình tiếp tục. cặn bã của các TV nổi rơi xuống đáy và ở đó diễn ra sự phân hủy và giải phóng dinh dưỡng. Cường độ ánh sáng theo độ sâu giảm theo cấp số mũ. không để nước bị nhiễm bẩn của nước hồ bị phú dưỡng. ở các vùng nước sâu hơn. Do tổn thất này. Nitơ và phospho theo nước thải sinh hoạt. chúng dễ bị ảnh hưởng. làm giảm hàm lượng oxy của nước một cách nghiêm trọng. ở các vùng cực sự phân tầng thường ít xảy ra. sinh khối tăng ít. các loài động vật không xương sống bị cạn kiệt. dần dần dẫn đến toàn bộ hệ sinh thái của hệ thống bị xáo trộn. còn nitơ là yếu tố hạn chế chủ yếu ở các vùng nước biển. Về mùa đông. ánh sáng tăng lên và nước phân tầng. chủ yếu sinh sôi các loài "nở hoa" gồm cả tảo lục độc. là nơi cư trú của cá và ĐV không xương sống. sinh khối tảo tăng nhanh. Những chất thải dinh dưỡng giầu nitơ và phospho do con người gây ra thường làm phú dưỡng thuỷ vực. sinh vật sinh sôi mạnh. không để vật nuôi vào các vùng này và đặc biệt lưu ý trong việc cấp nước uống. một tỷ lệ quan trọng (khoảng 18%) vật chất sinh học của chu trình ở bề mặt bị chìm xuống các vùng nước sâu hơn tạo thành các hạt chìm. ở tầng sâu của các đại dương và vùng nước nhiệt đới. Còn ở Nauy. độ xuyên ánh sáng giảm. chủ yếu là phân ĐV nổi. . Các chất gây ô nhiễm hữu cơ bị khử dần do hoạt động của VSV. nên ở hạ lưu lượng oxy lại tăng lên. Sự suy giảm ánh sáng phụ thuộc vào độ đục của nước. tạo ra mùi khó chịu và một số chất độc. Do quá trình pha loãng và hoà tan oxy. Dòng thải có BOD5 và COD cao gây ra sự thiếu hụt oxy cho thủy vực. sự xáo trộn nước và quá trình cặn đã lắng lơ lửng trở lại sẽ bổ sung dinh dưỡng cho nguồn nước mặt. Với các mức độ xả lớn hay ở đầu nguồn xả có thể làm cho nguồn nước bị phú dưỡng (Eutrophication). Các mối quan tâm về môi trường a. ở Hà Lan năm 1987. nhất là các loài có khả năng chống chịu được với nồng độ oxy thấp. Sự phú dưỡng Con người là nguồn gây nên sự giàu dinh dưỡng cho các hệ nước ngọt và nước biển ven bờ. khi nhiệt độ. ở các vůng nước duyęn hải và các hồ sự thay đổi nhiệt kém ổn định hơn. Mức độ oxy hoá phụ thuộc vào sự pha loãng của dòng thải và thành phần tính chất nước thải. 2. Phosphat thường hạn chế dinh dưỡng trong các nơi cư trú nước ngọt. các chất độc do tảo tạo ra gây thiệt hại hơn 10 triệu USD cho ngành công nghiệp nuôi cá hồi năm 1988.đứt quãng vào mùa đông do nước mặt mát và gió làm xáo trộn nguồn nước. ở đại dương. đứt quăng tạm thời do thủy triều và gió to. Lúc đầu ảnh hưởng còn nhỏ. rồi chết gây ra màu nước xanh do sự phân hủy của tảo. Với sản lượng tảo tăng lên làm cho độ đục tăng. sản xuất và hoạt động nông nghiệp xả xuống các thủy vực không qua xử lý là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm cho các nguồn nước. nhưng ở ven biển do có phù sa cao và các tải lượng hạt nên ánh sáng chỉ tới 6-48 m. tổng chi phí cho việc xử lý hiện tượng phú dưỡng mất tới 760 triệu Guider Hà Lan. sự thay đổi nhiệt mang tính ổn định hơn. ánh sáng có thể xuyên tới 100 m. thành phần của quần xã cá bị thay đổi.

trong sản phẩm dăm bông và thịt xông khói là 500 ppm. bảo quản cho thịt khỏi bị .bị hạn chế. NO2. hành.thấp cho các bà mẹ đang cho con bú và cho trẻ em được nuôi bằng sữa bình. Ví dụ rau diếp. đậu Hà Lan.giảm thành NO2. Nitrat và việc cấp nước uống Trong những thập niên gần đây.chủ yếu. Bản thân NO3. b. Nhiều thí nghiệm trên hàng loạt ĐV (như chuột cống) đă chứng minh rằng: nuôi bằng thức ăn có chứa hàm lượng muối NO3. NO2. Thực ra nồng độ NO2.chuyển hóa thành axit nitrơ (HNO2). tuy nhiên NO3. người ta hay tẩm thịt sống với muối có chứa NO3. Sự phong phú về dinh dưỡng do con người gây ra là một yếu tố góp phần quan trọng đối với khả năng xảy ra hiện tượng "nở hoa" của nước.còn có mặt trong thịt. oxy hoá sắt để tạo thành huyết Methaemoglobin làm giảm khả năng mang oxy của máu. * Chứng máu Methaemo. nhưng đây không phải là nguyên nhân duy nhất. Đa số các trường hợp trên thế giới liên quan đến việc sử dụng nước giếng khơi do nước giếng bị nhiễm bẩn bởi các chất bài tiết của người và động vật.quan trọng.trong nước uống tăng gây ra nguy cơ về sức khoẻ đối với cộng đồng. ở những quốc gia có NO3.thành NO2-. Thường trong quá trình ướp thịt. Rất may là các ca tử vong rất hiếm.giới hạn tối đa là 200 ppm.trong nước uống là 50 mg/l. truyền qua đường máu. có khả năng gây tử vong do "ngột ngạt hóa chất". Tổ chức sức khoẻ thế giới (WHO): 100 mg/l. Với một số người.hoặc tẩm KNO3 trong một số gia vị. ở dạ dày người lớn nhiều axit hơn trẻ em nên việc chuyển NO3. Nguyên nhân là do sự sử dụng phân đạm vô cơ tăng. Trong thịt ướp. Axit là một tác nhân nitro hóa mạnh. nơi mà sự vận chuyển/ xáo trộn ngang bị hạn chế.chủ yếu: 4 chai bia con có hàm lượng NO3. Nitrat là nguồn nitrit chủ yếu trong rau và thịt ướp.trung bình bằng 2 lần lượng hấp thụ từ thức ăn có chứa nitrat. Hàm lượng NO3. Mỹ là 45 mg/l. NO3. ủy ban châu Âu quy định mức tối đa của NO3. cường độ bức xạ cao và thời gian ban ngày dài. cần tây: 100 mg/kg.không gây rủi ro cho sức khỏe.cao nên rau là nguồn NO2. gây rň rỉ NO3. Mức an toàn về NO3. Ướp thịt bằng NaNO3 và KNO3 làm cho thịt có hương vị thơm và màu đặc trưng. Giới hạn cao nhất cho phép của NO3.trong rau thấp (chỉ khoảng 1 ppm trong rau tươi) nhưng do số lượng ăn và nồng độ NO3.cao phải cấp nước chai có nồng độ NO3. Tuy nhiên tần suất "nở hoa" tảo cũng tăng lên ở các vùng nước duyên hải cho thấy vấn đề này không còn là trường hợp điển hình. Rau là nguồn thức ăn chứa NO3. Hiện tượng "nở hoa" thường hay xảy ra nhất ở nơi nước phân tầng.cho nước uống là 100 mg/l. phản ứng với các thành phần thực phẩm kể cả các axit amin và hỗn hợp sắt.ảnh hưởng đến sức khoẻ với 2 khả năng sau: chứng máu Methaemoglobin và ung thư tiềm tàng. mức NO3. bia là nguồn NO3. NO2.globinaemia (hội chứng xanh xao trẻ em) Trẻ nhỏ khoảng 1 tuổi dễ mẫn cảm với sự tồn lưu huyết cầu tố bào thai và do trong dạ dày không có đủ độ chua để hạn chế sự chuyển hoá NO3.thành NO2. * Ung thư tiềm tàng ở điều kiện pH axit của dạ dày.cao đă gây ra ung thư. chiếm 75 % tổng mức cung cấp.thay đổi theo mùa và điều kiện trồng trọt. khoai tây: ~200mg/kgÁ các mức NO3. NO2.hình thành ở dạ dày.trong nước uống tăng lên đáng kể. phản ứng với huyết sắc tố mang O2.do men khử nitrat và gây độc.xuống nước ngầm. còn số lượng trong nước uống không đáng kể. của KNO3 là 595 ppm.Gần đây hiện tượng phú dưỡng nuôi trồng được coi là vấn đề nan giải trong các vůng nước nội địa. gây tích luỹ lớn O2 ở cơ bắp.

Việc giảm thiểu mức phân bón có tác dụng làm giảm nồng độ nitrat đến nước ngầm và giảm phú dưỡng tới nước mặt. dinh dưỡng hầu như được giữ và quay vòng trong hệ thống. tuy nhiên nếu uống nhiều sẽ trở thành nguồn quan trọng.cao. Việc giảm thiểu mức sử dụng phân đạm là rất quan trọng để giảm hàm lượng nitrat trong nước ngầm. Việc làm giảm thiểu mức nitrat trong nước uống theo các tiêu chuẩn quy định là rất phức tạp và tốn kém. Rò rỉ phân bón là một nguồn đưa các chất dinh dưỡng trong nông nghiệp xuống nước mặt và nước ngầm. Các hệ sinh thái tự nhiên ít bị rò rỉ nitơ. nhưng chúng có thể làm tăng tác động ung thư của các hợp chất khác. Tuy nhiên đất nông nhiệp thì sự xáo trộn làm rò rỉ nhiều chất dinh dưỡng lưu động. Một số nghiên cứu cho thấy N-nitrosamines và các hydrocacbon thơm làm tăng khả năng sinh u của ở động vật. Tuy vai trò của nitrat và nitrit trong công tác bảo quản thực phẩm là rất quan trọng nhưng cần cố gắng giảm thiểu mức độ sử dụng chúng trong công nghiệp thực phẩm.và NO2. gây dễ tiếp xúc với mầm sinh ung thư tiềm tàng.nitronsyl (Fe2(SCH3)2(NO)4). Trong rau muối phát hiện thấy chứa hỗn hợp sắt.hỏng do sự sinh trưởng của VK kị khí gây hại tiềm tàng như Clostridium botulinum. Phải hết sức thận trọng và nghiêm túc xem xét đầy đủ bằng chứng về các rủi ro đối với nitrat. Người ta còn phát hiện thấy rau muối ngâm trong nước nhiều tuần và bánh ngô cũng có hàm lượng NO3. hợp chất này không gây ung thư mà chỉ gây đột biến yếu. Thường người ta sử dụng giải pháp dùng các nguồn thay thế có mức nitrat thấp hơn. . Rõ ràng có mối quan hệ phức hợp giữa tỷ lệ mắc ung thư với mức nitrat trong nước uống. Nitrat trong nước uống chỉ là nguồn rất nhỏ gây ra NO2-. Trong bánh ngô thường bị nhiễm mốc Fusarium moniliform có thể tạo ra nitrosamines. mức nitrat/ nitrit trong thức ăn.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful