Lời nói đầu

Trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, với chính sách mở cửa và hội nhập, Việt Nam đang từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại. Năm 1997, Luật thương mại Việt Nam ra đời đánh dấu một bước phát triển lớn trong chặng đường xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật nước ta, trong đó đáng kể nhất là các điều khoản điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài, đáp ứng nguyện vọng và mong muốn của các thương nhân Việt nam có quan hệ thương mại Quốc tế. Ra đời năm 1997, chậm hơn Công ước viên 17 năm, chắc hẳn các quy định của Luật thương mại Việt Nam về hợp đồng mua bán Quốc tế hàng hóa đã có kế thừa và đúc rút được những bài học quan trọng từ thực tiễn thương mại Việt Nam và thế giới, nhưng những quy định này có được phù hợp với thông lệ Quốc tế hay không, có đáp ứng được trọn vẹn nguyện vọng cũng như mong muốn của các thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài khi ký kết hợp đồng mua bán Quốc tế hay không thì thực tế sẽ cho thấy một câu trả lời xác đáng nhất. Tuy nhiên, Luật thương mại của Việt Nam ra đời là một điều hết sức khích lệ, là một kết quả tất yếu của đòi hỏi do thay đổi về diện mạo và sắc thái đời sống kinh tế nước ta. Phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại Việt Nam rất rộng, nhưng trong bài tiểu luận này, chúng em chỉ muốn đề cập đến vấn đề liên quan đến chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán Quốc tế hàng hóa cùng với một số kiến nghị nhỏ với mong muốn Luật thương mại Việt Nam sẽ phát huy hiệu quả đúng với mục đích ra đời của nó.

1

phần I

Khái quát chung về luật Thương Mại Việt Nam

I. 1.

Hoàn cảnh và mục đích ra đời Hoàn cảnh ra đời của Luật thương mại Việt Nam.

Ngày 10/05/1997, một văn bản luật nhằm điều chỉnh các hành vi thương mại của thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam đã ra đời sau khi được nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX kì họp thứ 11 thông qua. Đó là Luật thương mại Việt Nam 1997 cùng với các hệ thống văn bản pháp luật khác, kể từ ngày 01/01/1998, Luật thương mại Việt Nam chính thức có hiệu lực và là cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh một số vấn đề cơ bản liên quan đến hợp đồng mua bán ngoại thương. Luật thương mại Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi từ nền kinh tế sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp với nhiều đặc thù của một quốc gia có truyền thống nho giáo lâu đời. Sự phát triển kinh tế trong nước làm nảy sinh nhiều loại hình kinh doanh, trao đổi mua bán, hoạt động đầu tư mới. Cùng với nó là quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế. Các nước ngày càng tham gia sâu rộng hơn vào thương mại thế giới đã dẫn đến xu hướng quốc tế hóa pháp luật hay là việc xích lại gần nhau giữa pháp luật các nước hoặc việc nhất thể hóa pháp luật một số nước. Kể từ năm 1986, sau khi thực hiện chính sách đổi mới, Quốc hội đã liên tiếp thông qua nhiều đạo luật quan trọng như Luật đầu tư nước ngoài (1987), Luật công ty (1990), Luật khuyến khích đầu tư trong nước (1994) ... nhằm tạo ra cơ sở pháp lý cơ bản cho các hoạt động thương mại và góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Song, có thể thấy ở nước ta lúc bấy giờ cũng chưa có một môi trường pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, nhất là
2

các mối quan hệ kinh tế đối ngoại. Điều này gây trở ngại lớn trong quan hệ mua bán hợp tác đầu tư giữa các nước với Việt Nam. Mặt khác, trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế nước ta đã chuyển sang giai đoạn mới: giai đọan công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước với nhiều thử thách của thị trường và xu thế hội nhập quốc tế vai trò của pháp luật ngày càng quan trọng, hệ thống pháp luật Việt Nam cần được đổi mới mạnh mẽ. Tính chất của nền kinh tế thị trường mở trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới đòi hỏi điều chỉnh pháp luật về hoạt động ngoại thương phải được tiến hành trên cơ sở các đạo luật có sự thống nhất đồng bộ, vừa có hiệu lực pháp lý cao vừa ổn định chứ không thể chỉ dựa trên sự điều chỉnh của các văn bản dưới luật chưa đồng bộ và thường xuyên thay đổi. Chính vì vậy, sự ra đời của Luật thương mại Việt Nam 1997 là kết quả tất yếu của đòi hỏi do thay đổi về diện mạo và sắc thái đời sống kinh tế nước ta. Mặt khác, khi tham gia vào thương trường quốc tế, các chủ thể của Việt Nam thường gặp bất lợi khi buôn bán hợp tác đầu tư với các chủ thể nước ngoài, nơi mà hầu hết đã có một khuôn khổ pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế đối ngoại. Vì vậy, để đảm bảo cho các chủ thể kinh tế nước mình trong quan hệ thương mại Quốc tế cũng như nhằm tạo một môi trường pháp lý lành mạnh hoàn thiện Luật thương mại Việt Nam 1997 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/1998 là cơ sở pháp lí góp phần mở rộng giao lưu thương mại với các nước trên thế giới. 2. Mục đích ra đời của Luật thương mại Việt Nam

“Luật thương mại Việt Nam 1997 là cơ sở pháp lý để phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp tác xã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân; phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ thương mại trên các vùng của cả nước, mở rộng giao lưu thương mại với nước ngoài, góp phần đẩy mạnh sản xuất cải thiện đời sống nhân dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất, người tiêu dùng và lợi ích hợp pháp của thương nhân, góp phần tích cực nhằm đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vứng theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa , vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh”. Lời nói đầu của Luật thương mại Việt Nam cũng chính là lời giải thích về mục đích ra đời của bộ luật này. Luật thương mại Việt Nam ra đời với 3 mục tiêu cơ bản sau:

3

 Thương mại là hoạt động quan trọng có ảnh hưởng lớn và trực trếp đến hoạt động sản xuất và lao động, trong khi nhiều chính sách cơ bản của đảng và nhà nước về lĩnh vực này chưa được thể chế hóa bằng pháp luật, như mục tiêu của thương mại; chính sách đối với các doanh nghiệp thương mại thuộc các thành phần kịnh tế khác nhau; chính sách đối với các mặt hàng, các dịch vụ quan trọng.... Do đó, việc luật hóa các quan điểm này là mục tiêu hàng đầu của việc ban hành luật Luật thương mại.  Nói đến hoạt động thương mại là nói đến các dạng chủ yếu của nó như: hoạt động mua bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán, đại lý mua bán hàng hóa. Các dạng hoạt động thương mại này cho đến nay vẫn chưa được qui định cụ thể đồng bộ đầy đủ. Do đó ít nhiều ảnh hưởng đến lưu thông hàng hóa trong nước và nước ngoài.  Đảng và nhà nước ta thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại. Chúng ta đã triển khai nhiều công việc để hội nhập trong khu vực và trên thế giới, do đó đòi hỏi phải sớm ban hành những qui định thích hợp có giá trị pháp lý cao nhằm tạo thuận lợi cho sự giao lưu hàng hóa trong nước với nước ngoài làm cho pháp luật thương mại nước ta phù hợp với tập quán thương mại quốc tế, đồng thời tạo cơ sở pháplý để xử lý các quan hệ kinh tê thương nhân trong việc đàm phán song phương với các nước, các tổ chức ở khu vực và quốc tế. II. Vai trò của Luật thương mại Việt Nam 1. Bảo đảm quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại.

Luật thương mại của bất kỳ quốc gia nào dù trực tiếp hay gián tiếp cũng nhằm đảm bảo sự điều tiết của nhà nước đối với các hoạt động thương mại. Trong Luật thương mại Việt Nam, sự điều tiết của nhà nước đối với các hoạt động thương mại được qui định trong các Điều 6-16, 224-262. Sự quản lý nhà nước về thương mại được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành bao gồm: ban hành các văn bản pháp luật về thương mại, tổ chức đăng ký kinh doanh thương mại; tổ chức thông tin về thị trường; hướng dẫn tiêu dùng hợp lý; tiết kiệm...; kí kết hoặc tham gia các Điều ước Quốc tế về thương mại; đại diện và quản lý các hoạt động thương mại của Việt Nam ở nước ngoài; hướng dẫn tham gia kiểm tra việc chấp hành và thực hiện pháp luật thương mại; xử lý vi phạm pháp luật về thương mại.

4

2.

Thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân trên lĩnh vực thương mại.

Nhằm bảo đảm lưu thông hàng hóa được thuận tiện, Luật thương mại Việt Nam qui định các quyền tự do sau đây của thương nhân trong khuôn khổ pháp luật: thương nhân đủ điều kiện theo qui định của pháp luật có quyền hoạt động thương mại trong các lĩnh vực địa bàn mà pháp luật không cấm (Điều 6, Luật thương mại), có quyền tự do kinh doanh, tự do chọn bạn hàng (Điều 6, Luật thương mại), có quyền tự do lựa chọn hình thức để giao kết hợp đồng (Điều 44, Luật thương mại), có quyền tự do xác định nội dung khác ngoài những nội dung chủ yếu của hợp đồng (Điều 50, Luật thương mại Việt Nam), có quyền sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng (Điều 57, Luật thương mại Việt Nam). 3. Thực hiện quyền bình đẳng trước pháp luật của thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong các hoạt động thương mại.

Quyền bình đẳng trước pháp luật của thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế được qui định tại Điều 7, Luật thương mại Việt Nam. Đây là sự cụ thể hóa Điều 22, Hiến pháp 1992 trong các hoạt đông thương mại. Bình đẳng ở đây là các chủ thể được đối xử như nhau trước cơ quan nhà nước và trước pháp luật Việt Nam, nếu có đủ các đièu kiện có thể so sánh được với nhau. Tuy nhiên, theo Điều 10, Luật thương mại, thương nhân là doanh nghiệp nhà nước có những quyền và nghĩa vụ không giống như thương nhân là công ty, tổ hợp tác hay cá nhân. Trong kinh doanh nói chung cũng như trong hoạt động thương mại nói riêng, quyền bình đẳng thể hiện ở chỗ, các thương nhân được pháp luật đảm bảo cơ hội như nhau để tham gia cạnh tranh trong hoạt đông thương mại. Ví dụ: nếu có những điều kiện dự thầu như nhau, thương nhân đều được phép tham gia dự thầu. Nếu có đầy đủ các điều kiện kinh doanh xuất nhập khẩu, thương nhân có điều kiện tham gia hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp. Các cơ hội kinh doanh đó có được tận dụng hay không, phụ thuộc vào từng vị trí của thương nhân trên thị trường. Như vậy, bình đẳng được hiểu là bình dẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, công bằng tuyệt đối trong kinh doanh là rất khó thực hiện, vì cạnh tranh trên thị trường là phát huy các thế mạnh riêng nhằm tiếp cận, mở rộng, giành giữ thị phần nên việc chèn ép để đẩy lùi đối thủ cạnh tranh là không tránh khỏi. 4. Qui định những điều kiện đối với thương nhân trong các hoạt động thương mại

Để đảm bảo an toàn cho các quan hệ thương mại trong hoạt động thương mại, Luật thương mại quy định chặt chẽ hơn so với các quy định tương đương trong
5

Điều 4 và Điều 5 thì Luật thương mại Việt Nam có phạm vi điều chỉnh hẹp. song không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này mà có các văn bản luật khác tương ứng (Luật xây dựng.. nguyên vật liệu sản xuất và tiêu dùng.. Luật thương mại Việt Nam quy định bên mua có nghĩa vụ thông báo trong một thời hạn khiếu nại nhất định nếu hàng hóa không đúng theo thỏa thuận. cổ phiếu.. gồm một số hoạt động sau:  Hợp đồng mua bán giữa thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài. Tóm lại. Song do sự non trẻ của nền kinh tế mà nước ta đang bước đầu xây dựng. III. Theo các Điều 17.) Ngoài ra. lưu thông hàng hóa như: đại diện cho thương nhân. ngân hàng. Luật hàng không. môi giới thương mại.. Ví dụ: Điều 75. Luật thương mại Việt Nam 1997 có nhiều điểm tương đồng với luật thương mại của nhiều nước có nền kinh tế thị trường. bảo hiểm.. đại lý mua bán hàng hóa. nếu không thông báo kịp thời bên mua mất quyền khiếu nại. Ra đời trong hoàn cảnh nền kinh tế đất nước cũng như nền kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến đáng kể.. chủ yếu là các động sản máy móc thiết bị. Vì Luật thương mại Việt Nam điều 6 . Nếu Công ước Viên 1980 liệt kê các loại hàng hóa không là đối tượng điều chỉnh của công ước viên thì Luật thương mại Việt Nam lại giới hạn các hàng hóa là đối tượng điều chỉnh của luật này.  Các dịch vụ liên quan đến mua bán hàng hóa. Phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại Việt Nam với tư cách là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài.pháp luật dân sự. Luật các tổ chức tín dụng. Luật hàng hải.. có thể xem Luật thương mại Việt Nam là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để xác định địa vị pháp lý cho thương nhân hoặc điều chỉnh các hành vi thương mại nói chung. trái phiếu do có những đặc thù riêng nên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại Việt Nam. hội chợ triển lãm thươg mại. phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại Việt Nam còn hạn hẹp ở một số các loại hàng hóa. Các bất động sản như nhà máy công trình xây dựng. các quyền tài sản như sở hữu công nghiệp. quyền sử dụng đất. gia công quảng cáo thương mại. tính định hướng XHCN và thực tiễn lập pháp trong gần 30 năm qua đã ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung nhất là phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại Việt Nam.. Các hoạt động khác tuy cũng có tính chất kinh doanh như cho thuê xây dựng vận tải.

Đây cũng là một mục đích quan trọng của Luật thương mại Việt Nam 1997.chỉnh một số hành vi thương mại của thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam nên đương nhiên bộ luật này cũng điều chỉnh hoạt động mua bán giữa thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài. 7 .

. vì hợp đồng là sự thỏa thuận tự nguyện có hiệu lực pháp luật. Việc người bán không giao hàng. Và người mua thiếu tinh thần thiện chí trong thực hiện hợp đồng như chậm mở L/C. Thụ trái có hành vi vi phạm pháp luật Đây là căn cứ cơ bản để quy trách nhiệm. hành vi vi phạm pháp luật có thể là không thực hiện hợp đồng hay thực hiện không đầy đủ. người mua không trả tiền hàng sẽ bị coi là hành vi không thực hiện hợp đồng. chỉ khi các chủ thể hợp đồng thực hiện đúng nguyên tắc chấp hành mua bán ngoại thương sau: 8 . ta phải căn cứ vào các yếu tố cấu thành trách nhiệm. Điều 230. Mặt khác. giao hàng không đúng phẩm chất quy cách đã thỏa thuận . nếu một bên không thi hành thì bị coi là vi phạm pháp luật và sẽ bị quy kết trách nhiệm. Trong mua bán quốc tế hàng hóa. và sau khi được xác lập. không chịu nhận hàng cũng bị coi là vi phạm hợp đồng. Như vậy. và như vậy nếu hợp đồng được ký kết theo đúng quy định của pháp luật thì hành vi vi phạm hợp đồng này cũng là vi phạm pháp luật. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn khoa học pháp lý về lỗi trong quan hệ mua bán. Để xác định xem một trường hợp vi phạm hợp đồng có thể quy trách nhiệm cho bên vi phạm không.Phần II Chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng I. bao gồm: 1. các nghĩa vụ xuất phát từ quan hệ hợp đồng mang tính bắt buộc. thi hành không tốt.. việc người bán không thực hiện đầy đủ. Luật thương mại: "Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại" quy định bốn yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán ngoại thương. giao hàng chậm. khi một bên trong hợp đồng mua bán ngoại thương không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ những quy định trong hợp đồng đều phải chịu trách nhiệm bồi thường và chịu phạt trước bên kia. Không phải bất kỳ lúc nào. Các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán ngoại thương. thực hiện không tốt hợp đồng như giao hàng thiếu.

. do sơ suất hoặc có biết trước được hậu quả của hành vi sơ suất đó song do quá cẩu thả mà không lường trước được mức độ của hậu quả. Ví dụ như khi người bán không giao hàng. L/C đã mở chứng minh mình đã thực hiện và sẵn sàng thực hiện hợp đồng. người mua phải chứng minh việc người bán không giao hàng căn cứ vào các tài liệu văn bản có liên quan như hợp đồng mua bán đã được ký kết là căn cứ chứng minh người bán có nghĩa vụ phải giao hàng. đảm bảo đạo đức trong kinh doanh. Các bức điện giục bên bán giao hàng.. dù biết là sai nhưng vẫn không chấp hành quy định của hợp đồng và do đó bị coi là có lỗi. hai bên cùng có lợi. Như vậy.. Trong hợp đồng mua bán với thương nhân nước ngoài. Song do không tìm được loại tàu theo quy định của hợp đồng. Còn việc “quan tâm không đúng mức” tức là hành vi vi phạm do vô ý. do đó dẫn tới vi phạm nghĩa vụ đó thì bị coi là có lỗi. 9 . do không quan tâm đúng mức. 2. Khi đó. việc một bên “không quan tâm” và “quan tâm không đúng mức” tới việc thực hiện nghĩa vụ của mình.  Nguyên tắc thực hiện trên cơ sở thiện chí hợp tác. tàu bị phong tỏa do lệnh của chính quyền sở tại nước người mua hạ lệnh đối với tất cả các con tàu mang quốc tịch ý. người bán tự ý thuê một con tàu mang cờ Italia để chở hàng mà không thông báo cho người mua. không thực hiện nghĩa vụ. người bán nếu muốn bác lại thì phải chứng minh mình không vi phạm hợp đồng bằng cách xuất trình biên lai chứng từ . cụm từ “không quan tâm” được hiểu là hành vi cố ý. Ví dụ như một hợp đồng mua bán ngoại thương theo điều kiện CIF có quy định là người bán phải thuê tàu chở hàng loại tàu trẻ 10 tuổi. Luật thương mại Việt Nam quy định nghĩa vụ chứng minh vi phạm hợp đồng là của bên bị vi phạm. người bán dù đã biết trước hành vi của mình nhưng đã không lường trước được hậu quả phát sinh và lỗi này bị coi là lỗi sơ suất. Phải có lỗi của bên vi phạm hợp đồng. quốc tịch tàu Nhật Bản.  Nguyên tắc thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết. Có thực hiện đúng các nguyên tắc này thì các bên mới được coi là không vi phạm hợp đồng tức là không vi phạm pháp luật và được pháp luật bảo vệ quyền lợi chính đáng. Đến cảng nước người mua. điện trả lời của người bán cam kết sẽ giao hang. Nguyên tắc thực hiện tự nguyện thực sự các cam kết. ở đây..

.) + các chi phí đã chi ra và chi thêm: các chi phí đã chi ra như chi phí đàm phán..Luật thương mại Việt Nam không quy định ai có lỗi mà lỗi được xác định theo nguyên tắc suy đoán. Thông thường. Đây là trách nhiệm suy đoán và dù lỗi cố ý hay vô ý cũng không làm tăng giảm trách nhiệm. Trái chủ bị thiệt hại vật chất. người mua có thể quy trách nhiệm cho người bán. đặc biệt cho trường hợp muốn quy trách nhiệm đòi bồi thường thiệt hại. ký kết hợp đồng. chi phí thuê tàu mua bảo hiểm cho hàng hóa nhưng người bán không giao hàng. Song. bên vi phạm muốn thoát trách nhiệm phải chứng minh là mình không có lỗi. Luật thương mại Việt Nam cũng như luật các nước thường chỉ thừa nhận những thiệt hại tài sản (thiệt hại về vật chất) mới là yếu tố để quy trách nhiệm. chừng nào không chứng minh được thì đương nhiên vẫn bị coi là có lỗi và phải chịu trách nhiệm. thiệt hại về tài sản hoặc các quyền có giá trị tài sản. chi phí mở L/C. Khi một bên vi phạm hợp đồng thì bên kia có quyền suy đoán bên vi phạm có lỗi và vì vậy. Khi bị quy trách nhiệm. * Thiệt hại về tài sản thường gồm các loại thiệt hại sau: . chi phí lưu kho bãi mà người bán phải trả do người mua (theo điều kiện FOB) chưa đến lấy hàng. Tổn thất thực tế gồm có: + giảm tài sản bằng hiện vật: như khi một bên vi phạm một nghĩa vụ nào đó làm cho tài sản của bên kia giảm sút (người bán giao hàng kém phẩm chất so với thỏa thuận làm cho bên mua không nhận được hàng đúng chất lượng do đó phải bán hạ giá hoặc phải sử dụng với mục đích khác đi. Các chi phí chi thêm trong quá trình thực hiện hợp đồng như chi phí bồi thường cho người thứ ba do bên bán giao chậm hàng làm cho bên mua bị phạt giao chậm. người mua có quyền suy đoán ngay là người bán có lỗi vì không giao hàng theo đúng thời gian thỏa thuận và như vậy. có thể tính toán được một cách cụ thể. Đây là yếu tố cần thiết..Tổn thất thực tế: Là một loại thiệt hại mang tính chất thực tế. chi phí phạt dỡ chậm mà người bán phải trả cho người cho người chuyên chở do người mua không chịu đến nhận hàng. Tất cả các khoản bị giảm sút về tài sản và chi phí 10 .. thiệt hại mà trái chủ phải gánh chịu có thể là thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần. bên vi phạm phải chịu trách nhiệm. Ví dụ như khi người bán giao hàng chậm. 3.

Có mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại vật chất. các khoản thu đáng lý ra được nhận nếu bên kia thực hiện đúng hợp đồng nhưng đã không được nhận. Nghĩa vụ chứng minh quan hệ nhân quả này thuộc về bên bị vi phạm. nghĩa vụ chứng minh thiệt hại trực tiếp lại rơi vào bên bị vi phạm vì bên bị vi phạm muốn đòi được bồi thường càng nhiều càng tốt nên thường liệt kê các thiệt hại ra. bảo quản hàng hóa. bên bị vi phạm phải chứng minh được là mình có thiệt hại đó và để thoát trách nhiệm. thiệt hại đoán ước. người bị vi phạm vẫn được quyền đòi bên vi phạm. Để đòi bồi thường thiệt hại thực tế. Vậy hành vi giao hàng chậm là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại tài sản cho người mua (không được nhận khoản lãi mà mình có quyền được hưởng từ quan hệ hợp đồng).đã chi và chi thêm này đều có thể quy ra giá trị vật chất cụ thể và là cơ sở cho việc đòi bồi thường thiệt hại. Những khoản lợi này dù trên thực tế nếu không có vi phạm hợp đồng.Các khoản lợi bị bỏ lỡ. các bên đều mong đợi. làm phát sinh chi phí lưu tàu vì hành vi không nhận hàng của người mua là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả người bán phải chi thêm các chi phí lưu tàu. Ví dụ như người bán giao hàng chậm so với thời gian quy định trong hợp đồng làm giá hàng giảm so với giá của thời kỳ lẽ ra hàng được giao. Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra các thiệt hại. Điều cần chú ý là khi chứng minh phải loại trừ các thiệt hại gián tiếp. thiệt hại tài sản khác còn lại do một số nguyên nhân khác không phải do lỗi của mình bằng cách đưa ra các văn bản. Hay trường hợp người bán đã giao hàng theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng nhưng người mua không chịu ra nhận hàng tại cảng đến. bằng chứng có liên quan. Đây chính là những khoản lợi mất hưởng mà khi ký kết hợp đồng. . thiệt hại không lường trước được. 11 . Bên vi phạm để không phải bồi thường tất cả các thiệt hại mà trái chủ đã nêu thì phải chứng minh được rằng chỉ một phần thiệt hại xảy ra là do việc vi phạm nhiệm vụ của mình. bên bị vi phạm có nhận được hay không không quan trọng mà cứ có vi phạm gây thiệt hại làm mất khoản lợi dự ước đó. Trên thực tế. 4. còn thiệt hại thực tế là hậu quả trực tiếp của những hành vi đó. bên vi phạm phải chứng minh ngược lại. và do vậy người mua bị bỏ lỡ khoản lợi đáng lẽ được hưởng.

 Phạt vi phạm.II. 1. Luật thương mại Việt Nam. Theo Điều 223.  Bồi thường thiệt hại.” Như vậy. Vậy những trường hợp nào có thể áp dụng được chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. các chế tài thương mại được hiểu là những biện pháp pháp lý mang tính tài sản do bên bị vi phạm lựa chọn để áp dụng đối với bên vi phạm nhằm mục đính ngăn ngừa. bên vi phạm phải áp dụng biện pháp nào hay phải chịu phí tổn như thế nào. Buộc thực hiện đúng hợp đồng Điều 223. Khoản 2. Theo điều 222. chế tài này được áp dụng trong các trường hợp: giao hàng thiếu. có bốn loại chế tài trong thương mại. Luật thương mại Việt Nam giành hẳn mục 1 chương IV để quy định các chế tài áp dụng cho việc vi phạm hợp đồng trong hoạt động mua bán hàng hóa. Tùy thuộc vào các vi phạm và các quy định khác nhau trong hợp đồng mà các chế tài khác nhau được áp dụng. Các chế tài áp dụng cho việc vi phạm hợp đồng trong hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật thương mại Việt Nam. bên vi phạm phải chịu trách nhiệm trước bên bị vi phạm thông qua các hình thức trách nhiệm gọi là chế tài. thực hiện và chấm dứt hợp đồng. Khoản 1 Luật thương mại quy định: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh. trừng trị và giáo dục. Do đó. Như vậy. chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng buộc bên vị phải thực hiện đúng hợp đồng cho dù để thực hiện được. Theo pháp luật thương mại Việt Nam. Đó là:  Buộc thực hiện đúng hợp đồng. cung ứng dịch vụ không 12 . các chế tài thương mại được áp dụng là để khôi phục về mặt vật chất cho bên bị vi phạm hoặc là để ngăn ngừa thiệt hại hay có ý nghĩa trừng phạt về mặt vật chất đối với bên vi phạm hợp đồng. giao hàng kém chất lượng. các chế tài này được các bên áp dụng cho các vi phạm xuất hiện từ lúc ký kết.  Hủy hợp đồng. Khi vi phạm hợp đồng trong hoạt động mua bán hàng hóa.

Trong trường hợp này. dịch vụ thì bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý. Ví dụ khi bên vi phạm giao hàng thiếu. cung cấp dịch vụ không đúng hợp đồng. bên vi phạm phải tìm cách loại trừ các khuyết tật của hàng hóa.đúng hợp đồng. Đối với việc giao hàng kém chất lượng. chất lượng. nếu không được sự chấp thuận của bên có quyền lợi bị vi phạm. bên vi phạm phải trả “các chi phí thực tế hợp lý. dịch vụ ghi trong hợp đồng. chủng loại. bên bị vi phạm không phải lúc nào cũng cứng nhắc đòi bên kia thực hiện đúng nghĩa vụ như giao hàng thêm (nếu giao hàng thiếu).. tức là phải giao đúng về số lượng.” Trên thực tế. xuất xứ. để đảm bảo cho quyền lợi của bên bị vi phạm. Trong trường hợp giao hàng thiếu. 13 . vừa hạn chế các thiệt hại. nhất là trong trường hợp bên vi phạm gặp nhiều khó khăn và chi phí để làm được như vậy và thậm chí bên bị vi phạm cũng có thể bị thiệt hại hơn. hay tìm biện pháp khắc phục khuyết tật của hàng hóa hoặc thay thế bằng hàng hóa khác (nếu giao hàng kém chất lượng). Khi đó. tuy nhiên “không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại. Tất nhiên. Luật thương mại còn quy định thêm rằng bên vi phạm có thể có thể giao hàng khác để thay thế hàng kém chất lượng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng. Khoản 3 và 4 của Luật thương mại cũng thể hiện sự linh hoạt khi quy định cụ thể rằng: Bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền mua hàng có quyền mua hàng hay nhận cung ứng dich vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hóa. dịch vụ khác để thay thế. mẫu mã. Rõ ràng là giải pháp này vừa giúp các bên tiếp tục quan hệ hợp đồng. nếu bên bị vi phạm viện cớ sửa chữa khuyết tật của hàng hóa để đòi bên kia các chi phí không liên quan đến việc sửa chữa khuyết tật đó hoặc đòi các chi phí vô lý quá cao so với thực tế thì bên vi phạm sẽ không phải trả các chi phí đó. để bảo vệ quyền lợi cho mình. Nếu bên có quyền lợi bị vi phạm tự sửa chữa khuyết tật. tức là khi bên vi phạm không thực hiện theo các quy định nói trên. tại Điều 223. chế tài này quy định rằng bên vi phạm phải giao đủ hàng theo đúng như đã thỏa thuận trong hợp đồng. Đây cũng là giải pháp mà Công ước Viên 1980 đưa ra khi bên bán không giao hàng hoặc giao hàng thiếu. thiếu sót của hàng hóa. Theo quy định này. Trong trường hợp này. thiếu sót của dịch vụ. khi một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.. bên vi phạm phải có trách nhiệm đền bù chi phí phát sinh.” Nói cách khác. bên vi phạm phải bù chênh lệch nếu có. bên bị vi phạm không nhất thiết phải chờ bên vi phạm giao hàng đủ mà có thể mua ngay hàng khác cùng chủng loại của người cung cấp khác để không mất thời cơ kinh doanh của mình.

Luật thương mại).. Phạt vi phạm Đây là một chế tài rất hay được sử dụng trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hợp đồng kinh tế. còn việc gia hạn chỉ là quyết định đơn phương của bên bị vi phạm nhằm bảo vệ lợi ích của mình. phí dịch vụ. giao hàng sai quy cách chủng loại. Tuy nhiên. giao hàng kém phẩm chất. Luật thương mại: “Phạt vi phạm là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt nhất định do vi phạm hợp đồng. bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình (Khoản 2. Theo Điều 226. không thanh toán tiền hàng. phạt vi phạm chỉ được áp dụng khi trong hợp đồng có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định sẽ áp dụng loại chế tài này cho những vi phạm nhất định và không phụ thuộc vào bên bị vi phạm có thiệt hại hay không. giao hàng thiếu. hủy hợp đồng. 14 . Không thực hiện hợp đồng có thể là không giao hàng.. buộc thực hiện đúng hợp đồng là chế tài nhẹ nhất trong các chế tài và là tiền đề để thực hiện các chế tài khác. Nếu hết thời hạn ấn định mà bên vi phạm vẫn không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. thiếu sót của hàng hóa nếu giao hàng kém phẩm chất thì “bên có quyền lợi bị vi phạm phải nhận hàng. không nhận hàng..” Từ định nghĩa trên có thể thấy. bên có quyền lợi bị vi phạm không được áp dụng các chế tài phạt vi phạm.” Như vậy.Khi bên vi phạm đã thực hiện đúng các quy định nói trên. Khoản 1. nhận dịch vụ và thanh toán tiền hàng.” (Điều 223. (Điều 224). Khoản 5) Để cho bên vi phạm có thể thực hiện được các nghĩa vụ nói trên. bồi thường thiệt hại. Thời hạn giao hàng nếu có sự thay đổi là do hai bên thỏa thuận. tức là giao đủ hàng đối với trường hợp giao hàng thiếu và sửa chữa khuyết tật. Để có thể đòi được tiền phạt. các bên phải dựa trên những căn cứ sau: một bên đã không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng hợp đồng (Điều 227. Song việc gia hạn này không có nghĩa là thay đổi điều khoản về thời hạn giao hàng.ở đây.. nếu trong hợp đồng có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Luật thương mại còn cho phép bên có quyền lợi bị vi phạm phải gia hạn một thời gian hợp lý. Điều 225 của Luật thương mại lại quy định rõ rằng: “Trong trường hợp không có thoả thuận khác thì trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Còn thực hiện không đúng hợp đồng có thể là chậm giao hàng. Luật thương mại không quy định rằng. Điều 225). 2.

các nước lại có quy định khác nhau về mối quan hệ giữa thiệt hại và số tiền phạt. các cơ quan tư pháp vẫn thừa nhận trường hợp mà tiền phạt cao hơn thiệt hại thực tế (quy phạm tùy ý). Nhưng trên thực tế. điều quan trọng là các bên phải có sự thỏa thuận. hoặc là đòi tiền bồi thường thiệt hại. nhưng chỉ giới hạn ở mức tối đa tám phần trăm giá trị phần hợp đồng vi phạm là nhằm tránh các bên sẽ lạm dụng điều khoản này. dự kiến trước về mứcphạt trong hợp đồng mua bán. Nếu bên bị vi phạm chứng minh được là bên kia vi phạm và vi phạm đó thuộc diện áp dụng chế tài phạt vi phạm theo hợp đồng hoặc do pháp luật quy định thì hoàn toàn có thể yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt. Nếu trái chủ có thiệt hại thực tế thì tiền phạt phải thấp hơn thiệt hại thực tế.” Như vậy. đã phạt là trừng phạt. Sau đây là một dẫn chứng cụ thể về việc áp dụng chế tài phạt trong giải quyết tranh chấp hợp đồng ở Việt Nam trong thời gian vừa qua: 15 . bên có quyền lợi bị vi phạm phải có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại và mức độ thiệt hại. Điều khoản này cho thấy Luật thương mại Việt Nam coi chế tài phạt vi phạm như một biện pháp trừng trị về mặt vật chất đối với bên vi phạm. Các nước XHCN. Nếu trái chủ có thiệt hại thực tế cao hơn so với tiền phạt đã thỏa thuận thì cho phép trái chủ được quyền lựa chọn hoặc là đòi tiền phạt. Còn khi có thiệt hại thực tế. tiền phạt phải thấp hơn thiệt hại thực tế. (Đây là quy phạm bắt buộc. Tuy nhiên. do đó. Riêng luật Đức lại cho rằng. khi trái chủ có thiệt hại thực tế thì tiền phạt luôn cao hơn thiệt hại thực tế. trong đó có Việt Nam thì thừa nhận tiền phạt là tiền bồi thường tính trước. Luật thương mại Việt Nam quy định: “Mức phạt đối với một vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. theo nguyên tắc. Về mức phạt vi phạm. Như vậy. nếu cao hơn thì chế tài này không có giá trị.khi áp dụng chế tài phạt vi phạm. Điều 228. trong trường hợp trái chủ không có thiệt hại thực tế thì mức phạt do hai bên hoàn toàn quyết định. trong trường hợp trái chủ không có thiệt hại thực tế thì mức phạt do hai bên thỏa thuận. Quan điểm của các nước về chế tài phạt đều cho rằng phạt là tiền bồi thường ước tính (tính trước). nhưng không quá tám phần trăm giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Luật Anh-Mỹ cho rằng.) Luật Pháp thì quy định rằng. Luật thương mại cho phép các bên trả bằng một số tiền cụ thể hoặc theo tỷ lệ phần trăm đối với việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhưng lại không quá tám phần trăm giá trị của phần hợp đồng bị vi phạm.

Như vậy.Ngày 22/12/1994. ngăn chặn thiệt hại. Do đó. Thời hạn giao hàng quy định trong hợp đồng không muộn quá ngày 20/1/1995. nhưng lại không có bất kỳ một hành vi nào nhằm thông báo cho IRP trước ngày 20/1/1995 để cùng thương lượng giải quyết. Tuy nhiên. Bên nào vi phạm nghĩa vụ sẽ bị phạt 12% trị giá hợp đồng. do đó. đề nghị tăng giá hàng và lùi thời hạn giao hàng từ 20/1/1995 đến ngày 15/2/1995 nhưng IRP không chấp nhận và khởi kiện đòi tiền phạt vi phạm hợp đồng. Bồi thường thiệt hại. Căn cứ theo Luật thương mại Việt Nam. theo sự trình bày của Protimex là họ không đủ khả năng thực hiện hợp đồng. chế tài này theo Luật thương mại Việt Nam đã ít nhiều bị giảm tác dụng.120 USD ngày 5/1/1995. mất mát. 3. điều này chứng tỏ Protimex đã chấp nhận việc thực hiện nghĩa vụ của bên Singapore. thanh toán bằng thư tín dụng không hủy ngang. chi phí. Nếu như các bên không ấn định mức phạt trong hợp đồng thì khi thụ trái vi phạm hợp đồng. có thể thấy các điều khoản phạt trong hợp đồng thường được áp dụng và phát huy tốt tác dụng nhằm ngăn ngừa. Protimex không hề có một hành vi phản đối hay yêu cầu gì. mặc dù công ty IRP đã mở L/C chậm một ngày. tổng trị giá hợp đồng là 78. Do đó. L/C phải được mở trước ngày 5/1/1995. Tuy nhiên. 16 . Công ty Singapore IRP đã ký hợp đồng mua 36 tấn cà phê của công ty xuất nhập khẩu biên giới Thanh Hóa (Protimex) theo đơn giá 2170 USD/ tấn. Thế nhưng Protimex vào ngày 18/1/1995 đã gửi công văn cho IRP trả lời là không thể giao hàng vì cà phê lên giá và đang gặp khó khăn về vốn. trái chủ có quyền yêu cầu thụ trái bồi thường thiệt hại. xét theo Luật thương mại Việt Nam thì Protimex buộc phải nộp tiền phạt cho công IRP của Singapore. công ty IRP đã mở L/C với số tiền là 78.120 USD. do chỉ giới hạn ở một số vi phạm nhất định và ở mức phạt tối đa là 8%. nếu chiều theo Luật thương mại thì cơ quan xét xử chắc chắn sẽ điều chỉnh mức % phạt mà hai bên đã thỏa thuận với nhau sao cho phù hợp. tổn thất mà một bên phải gánh chịu do bên kia vi phạm hợp đồng. song khi nhận được thông báo L/C đã mở. Tiến hành thực hiện hợp đồng. mức phạt quy định trong hợp đồng lại vượt quá giới hạn tối đa cho phép của Luật thương mại Việt Nam là 8%. Hơn nữa. giáo dục bên mua nâng cao ý thức chấp hành tốt nghĩa vụ hợp đồng. tức là đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo phương thức thư tín dụng chứng từ song chậm hơn một ngày so với thời hạn của hợp đồng. lỗi ở đây thuộc về Protimex. Bên vi phạm phải phục hồi quyền lợi cho bên bị vi phạm: bồi thường thiệt hại.

số tiền bồi thường thiệt hại sẽ bao gồm hai khoản: Thứ nhất là bên vi phạm phải bồi thường “giá trị tổn thất thực tế trực tiếp”. Theo Điều 229. Điều 229. gây thiệt hại cho người thứ ba mà người mua phải có trách nhiệm bồi thường. Ngoài ra. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố nói trên. 2) Trị giá hao hụt.  Có thiệt hại vật chất. lỗi được xác định theo nguyên tắc suy đoán lỗi. gián tiếp. trực tiếp và khoản lợi đáng lẽ được hưởng mà bên có quyền lợi bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm hợp đồng gây ra. Ví dụ người bán xuất khẩu dầu thô nhưng chất lượng kém. Tức là cứ có vi phạm hợp đồng thì có thể suy đoán bên vi phạm hợp đồng. do đó người mua phải tái chế lại. để có thể áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại cần phải có đủ các yếu tố sau:  Có hành vi vi phạm hợp đồng.. chẳng hạn có hành vi vi phạm hợp đồng mà không phát sinh thiệt hại vật chất hay hành vi vi phạm không trực tiếp dẫn đến thiệt hại vật chất hoặc lỗi không thuộc bên vi phạm mặc dù có thiệt hại. Muốn thoát trách nhiệm.thì không thể đòi bên vi phạm bồi thường thiệt hại. Khoản 1.  Có lỗi của bên vi phạm hợp đồng. tức là chỉ bồi thường những thiệt hại vật chất trực tiếp và thực tế chứ không phải bồi thường những thiệt hại tinh thần. đối với yếu tố “lỗi của bên vi phạm”. suy đoán.” Theo Điều 230 của Luật thương mại. Sau đó người mua tính toán được các thiệt hại như sau: 1) Tiền công tái chế.” Theo đó. 3) Giao chậm 30 ngày.  Có mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại vật chất. 17 . bên vi phạm phải chứng minh được là mình không có lỗi (Điều 231).Đây là một loại chế tài được áp dụng rất phổ biến khi có vi phạm hợp đồng mua bán gây thiệt hại cho bên vi phạm. Khoản 1 Luật thương mại: “Bồi thường thiệt hại là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra. Luật thương mại Việt Nam quy định: “Số tiền bồi thường thiệt hại gồm giá trị tổn thất thực tế. Số tiền bồi thường thiệt hại không thể cao hơn giá trị tổn thất và khoản lợi đáng lẽ được hưởng..

còn loại thiệt hại sau (nhà máy không có dầu sản xuất. đột xuất mà lúc ký kết hợp đồng các bên không lường trước được. ở đây.. sau Tết A mới bán được hàng. 5) Công nhân đình công do không có việc nhưng vẫn phải trả lương. Ví dụ như bên vi phạm hợp đồng làm cho bên bị vi phạm mất uy tín kinh doanh nhưng khó có thể lượng hóa được sự mất uy tín kinh doanh này sẽ làm cho trái chủ thiệt hại về mặt vật chất là bao nhiêu. thời hạn giao hàng trong hợp đồng quy định là vào tháng 12/1998. công nhân nghỉ việc nhưng vẫn phải trả lương. Trong 5 loại thiệt hại trên. ) là những thiệt hại gián tiếp vì về nguyên tắc nhà máy phải luôn có dầu dự trữ cho sản xuất. Chẳng hạn.900 đồng/kg xuống còn 4. luật pháp cho phép đòi bồi thường thiệt hại về tinh thần tức là những thiệt hại mà người ta khó có thể tính toán được một cách vật chất. Nguyên tắc bồi thường theo luật của các nước có sự khác nhau.. khó tính toán bằng con số thật mà chỉ tính toán được một cách tương đối (do tòa án quy định). người bán lưu kho hàng hóa. công nhân đình công. đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển mà Việt Nam là một ví dụ. Thứ hai.4) Nhà máy không có dầu sản xuất. người bán FOB mang hàng ra cảng để giao cho người mua. người mua phải bồi thường. là tổn thất thực sự được tính toán bằng những con số. sau khi đó bị bão lụt nên hàng hóa bị hư hỏng.” Chẳng hạn. Phần chênh 18 . Nhưng B giao hàng chậm (1/1999). đột xuất mà lúc ký kết hợp đồng hai bên không lường trước được nên người mua không phải bồi thường. Trong khi đó. Mặt khác.. Luật thương mại quy định bên bị vi phạm chỉ được đòi bồi thường thiệt hại vật chất.500 đồng/kg. chi phí lưu kho là thiệt hại. giá trên thị trường tại thời điểm A bán hàng thực tế và thời điểm bán hàng dự kiến giảm xuống từ 4. Bồi thường “giá trị tổn thất thực tế trực tiếp” cũng có nghĩa là không bồi thường những thiệt hại xa xôi. . nhưng người mua đưa tàu đến chậm. còn thiệt hại hàng hóa do bão lụt là thiệt hại xa xôi. Vì vậy.. bên vi phạm phải bồi thường “khoản lợi đáng lẽ được hưởng mà bên có quyền lợi bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm hợp đồng gây ra. Cơ hội bán hàng đối với bên A không còn nữa. thương nhân A ký hợp đồng mua gạo của thương nhân B với ý định cung cấp gạo phục vụ dịp Tết cổ truyền. Do đó. trực tiếp do chính hành vi vi phạm hợp đồng của thụ trái trực tiếp gây nên. bên vi phạm chỉ phải bồi thường 3 loại thiệt hại đầu vì đây là những thiệt hại tổn thất thực tế. Đối với các nước có nền kinh tế phát triển. mang tính vô hình nhiều hơn.

” Như vậy. Điều 233. Ngoài nghĩa vụ chứng minh tổn thất và mức độ tổn thất. lỗi được xác định trên cơ sở suy đoán lỗi nhưng khi áp dụng loại chế tài này. (Nhật Bản) ký hợp đồng mua của công ty Sunkuong Ltd. do đó sẽ được coi là thiệt hại thực tế. B phải đi mua hàng với giá cao hơn. Song đây không phải là những khoản lợi đáng lẽ được hưởng mà chỉ là những thiệt hại do suy đoán vì nếu A không giao hàng. Nhật Bản và Hàn Quốc.. bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bới tiền bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được.” (Điều 232. có thể thấy không phải lúc nào chế tài đòi bồi thường thiệt hại cũng được bên vi phạm chấp hành nghiêm chỉnh. trên thực tế trường hợp này cũng thường hay gây tranh cãi. ngừng sản xuất hai tháng.. Ví dụ. B tính toán các khoản thiệt hại bao gồm: tiền lương công nhân hai tháng. Tuy nhiên. Luật thương mại). Luật thương mại) Quy định này của Luật thương mại Việt Nam cũng giống với quy định của Công ước Viên 1980 khi áp dụng chế tài này. Riêng đối với trường hợp bên vi phạm chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán phí dịch vụ và các chi phí khác. Trong thực tiễn thương mại. “bên đòi bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả khoản lợi đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. bên đòi bồi thường thiệt hại có nghĩa vụ phải chứng minh tổn thất và mức độ tổn thất (Điều 231. việc chậm trả tiền này có thể làm bên có quyền lợi bị vi phạm thất thu những khoản lợi hay bỏ lỡ các thương vụ làm ăn khác. trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Hàng đến cảng Hải Phòng 19 . Công ty TICO Ltd. (Hàn Quốc) số lượng 1. thuế nộp trong hai tháng. A chậm giao hàng hai tháng. nếu bên đòi bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó. Luật thương mại Việt Nam quy định “bên kia có quyền đòi tiền lại trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả. các chi phí khác. tiền khấu hao nhà xưởng. Đó là vụ việc tranh chấp giữa ba công ty của Việt Nam. Mặc dù.lệch này được coi là khoản lợi mất hưởng của A do B vi phạm hợp đồng về thời hạn giao hàng.300 tấn phân Urê để bán lại cho công ty xuất khẩu rau quả III thuộc Tổng công ty rau quả Việt Nam (VEGETEXCO). số tiền lãi này cũng giống như khoản tiền bồi thường thiệt hại mà bên vi phạm phải trả cho bên có quyền lợi bị vi phạm bởi vì trên thực tế.

Hủy hợp đồng là chế tài nặng nhất áp dụng cho việc vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa. Kết quả giám định cho biết độ biuret của lô hàng trên là 1. VEGETEXCO không những phải lưu giữ lô hàng mà còn bị hải quan xử phạt hành chính vì đã nhập hàng không đạt tiêu chuẩn. song nếu bên vi phạm cố tình không thực hiện dù đó là phán quyết của trọng tài đi nữa thì bên chịu thiệt nhiều nhất vẫn là những doanh nghiệp làm ăn lương thiện. Như vậy. hầu hết khối lượng của các bao dưới mức tiêu chuẩn là 50 kg và không đồng nhất. tái chế. VEGETEXCO đã làm tờ khai hải quan tiếp nhận lô hàng và hải quan thành phố cũng đã làm thủ tục kiển hàng thông qua Tổng cục đo lường chất lượng (Quatest 3). Theo thực tiễn tư pháp của Anh. Ngoài ra.48 USD trong thời gian 30 ngày kể từ ngày 23/10/1997 (là ngày trọng tài ra phán quyết). Vì vậy. Hơn nữa.03 USD. Như vậy tức là lô hàng không đảm bảo chất lượng so với hợp đồng. Điều khoản chủ yếu là những điều khoản đi vào gốc rễ.ngày 6/9/1996. Từ vụ việc nêu trên. Chế tài hủy hợp đồng. 4. VEGETEXCO vẫn chưa được TICO bồi thường với lý do phía Hàn Quốc chưa bồi thường thiệt hại cho TICO. Do đó.259. có bao chênh tới 9 kg. Song đến nay. Luật pháp về buôn bán ngoại thương của các nước chưa quy định thống nhất nhau trường hợp vi phạm nào được quyền hủy hợp đồng. một bên có quyền hủy hợp đồng khi bên kia vi phạm điều khoản chủ yếu của hợp đồng. Chế tài này thường chỉ được áp dụng khi các bên đã sử dụng những biện pháp khác song không mang lại kết quả.8% (trong khi hợp đồng quy định là 1% và độ biuret tối đa mà kỹ thuật cho phép là dưới 1.719. VEGETEXCO đã kiện TICO ra trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam. phạt 18 triệu VNĐ và buộc phải tái chế lô hàng trước khi phân phối. có thể thấy cho dù có áp dụng các hình thức trách nhiệm khi có vi phạm hợp đồng. đi vào mục đích chính của hợp đồng. trọng tài còn tuyên bố TICO phải chịu chi phí trọng tài là 1. đóng gói lô hàng là 35. lô hàng trên cả về chất lượng và khối lương đều không đúng quy định của hợp đồng. kết quả giám định tiếp tục của Vinacontrol cho thấy.5%). Đây là một quy định chung chung. bốc dỡ. và quyết định của Tòa án hoặc trọng tài. Theo luật mua bán năm 1893 của Anh. còn cụ thể điều khoản nào là chủ yếu còn phụ thuộc vào cách xem xét của các bên. vi phạm điều khoản chủ yếu thường bao gồm: vi 20 . đòi bồi thường tổng giá trị thiệt hại gồm cả lãi suất đọng vốn do phải giám định.

khi vi phạm cơ bản hợp đồng.  Hàng giao không đáp ứng được công dụng thông thường. Nhìn chung..  Giao hàng có phẩm chất quá kém. Luật thương mại Việt Nam không quy định cụ thể các điều kiện theo đó các bên có được hủy hợp đồng mà theo Luật thương mại. khi không trả tiền hàng trong thời gian đã gia hạn thêm. để có thể hủy hợp đồng. Đề cập đến chế tài này. vi phạm phẩm chất bán hàng theo mẫu. chế tài hủy hợp đồng được áp dụng khi:  Vi phạm thời gian giao hàng.  Vi phạm phẩm chất hàng khi phẩm chất được quy định theo mẫu. mà chỉ hủy hợp đồng khi có sự vi phạm nghiêm trọng. Các bên có thể thỏa thuận bằng điều khoản hợp đồng hoặc bằng văn bản bổ sung hợp đồng. theo luật của các nước TBCN. chế tài hủy hợp đồng thường được áp dụng khi thụ trái có sự vi phạm cơ bản các nghĩa vụ của hợp đồng: 21 . trước hết các bên phải thỏa thuận trong hợp đồng.. Điều này có nghĩa là Luật thương mại chỉ thừa nhận duy nhất một trường hợp hủy hợp đồng là khi các bên có thỏa thuận sẵn rằng việc vi phạm đó sẽ áp dụng chế tài hủy hợp đồng. việc hủy hợp đồng được áp dụng khi không giao hàng trong thời gian gia hạn thêm.. Việc hủy hợp đồng do hai bên tùy ý thỏa thuận và luật không quy định các trường hợp hủy. Điều 235.  Hàng thuộc loại cá biệt và có mục đích chuyên dụng nhất định nhưng hàng giao không đạt được mục đích đó. nếu các bên không có thỏa thuận gì về trường hợp vị nào hủy hợp đồng thì theo Luật thương mại Việt Nam là không được hủy hợp đồng.. Trên thực tế.” Như vậy. nếu một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ hợp đồng thì bên kia có quyền đòi họ thực hiện thực sự hoặc đòi hủy hợp đồng cùng với việc bồi thường thiệt hại xảy ra. Nhưng không phải bất kỳ trường hợp vi phạm hợp đồng nào cũng dẫn đến hủy hợp đồng.phạm thời hạn giao hàng. Luật thương mại Việt Nam quy định như sau: “Bên có quyền lợi bị vi phạm tuyên bố hủy hợp đồng nếu việc vi phạm của bên kia là điều kiện để hủy hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận. Theo Công ước Viên 1980. Theo luật của Pháp. Do vậy. vi phạm phẩm chất khi mua bán hàng theo mục đích sử dụng.

 Người bán giao hàng kém phẩm chất đến mức hàng hóa đã giao không thể đáp ứng được mục đích sử dụng của hợp đồng. Muốn áp dụng chế tài này. Điểm này cũng là một điểm khác biệt của Luật thương mại Việt Nam so với Công ước Viên 1980 vì Công ước Viên theo quan điểm cho rằng hủy hợp đồng là một biện pháp bảo hộ pháp lý mà bên bị vi phạm có quyền áp dụng để bảo vệ quyền lợi của mình khi quyền lợi đó bị vi phạm nghiêm trọng.  Người mua không nhận hàng trong thời gian đã gia hạn thêm. muốn áp dụng chế tài hủy hợp đồng. một khi hai bên đã quy ước với nhau sẽ áp dụng chế tài hủy hợp đồng trong trường hợp vi phạm đã được quy định trong hợp đồng thì bên bị vi phạm có quyền tiến hành hủy hợp đồng cùng lúc với việc thông báo hủy hợp đồng được gửi tới bên kia. tòa án nếu vụ việc được đưa ra giải quyết ở các cơ quan xét xử. Thực tế là không có người vi phạm nào đồng ý hủy hợp đồng. nếu không thông báo ngay mà gây thiệt hại cho bên kia thì bên hủy hợp đồng phải bồi thường. họ thường phản đối hay im lặng.  Người bán giao hàng thiếu khi đã hết thời gian gia hạn cho việc giao hàng mà số hàng đã giao không thể đưa vào khai thác sử dụng được. Luật thương mại) Trong luật pháp các nước. Mục đích của việc thông báo này chính là để các bên thương lượng. vì nếu thế có nghĩa là họ tự nhận mình là có lỗi và sẽ gây hậu quả lớn. dù người bán đã gia hạn. bên bị vi phạm phải chứng minh việc vi phạm hợp đồng của bên kia thuộc trường hợp bị hủy (Theo Luật Thương mại là trường hợp đã được quy định trong hợp đồng. Trên thực tế.  Người mua cố tình không thanh toán.” (Điều 236. 22 . kể cả khi cố tình vi phạm. sai mẫu mà hợp đồng quy định (nếu sai mẫu nhỏ thì có thể áp dụng chế tài phạt).) và tiến hành gửi thông báo quyết định hủy hợp đồng cho bên vi phạm. Do đó. đây cùng là một điều kiện bắt buộc: muốn chế tài hủy hợp đồng có giá trị pháp lý thì trái chủ. người muốn áp dụng chế tài này phải thông báo cho thụ trái biết về việc mình hủy hợp đồng. cho bên vi phạm biết để mà tính toán.  Người bán giao hàng sai chủng loại. Còn nếu không có quy định trong hợp đồng thì bên bị vi phạm muốn áp dụng chế tài này phải được sự đồng ý của bên vi phạm. dự kiến tổn thất và có cách xử lý. Người bán cố tình không giao hàng trong trường hợp người mua đã gia hạn giao hàng. “Bên hủy hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy hợp đồng. Vì vậy phải có quyết định của trọng tài. Như vậy.

hậu quả của việc hủy hợp đồng là:  Sau khi hủy hợp đồng. thiệt hại và các phí tổn. Quy định “không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận” có nghĩa là nếu các bên chưa thực hiện hợp đồng thì không thực hiện nữa. ví dụ người bán trả lại tiền cho người mua. Nếu hợp đồng quy định phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ thì trong trường hợp này. phức tạp và là một sự can thiệp không cần thiết vào quyền tự do hợp đồng và thực chất. sự hủy hợp đồng là đương nhiên mà không cần tới sự can thiệp của tòa án hay trọng tài vì thủ tục này thường rất rườm rà. nếu đã thực hiện xong thì thôi.Do đó. Theo Điều 237. mọi chi phí liên quan do thụ trái gánh chịu. Mọi chi phí. Còn trường hợp hai bên đã nhận được quyền lợi của nhau thì phải hoàn trả song song bằng hiện vật (trả lại hàng) hoặc bằng tiền. Sau đây là một ví dụ minh chứng cho điều đó. người mua vẫn có quyền quy kết người bán không giao hàng để đòi phạt 5%. người vi phạm cơ bản của hợp đồng phải gánh 23 . người mua không phải đưa vụ việc ra tòa án mà vẫn được hủy. Như vậy. người bán đã giao hàng nhưng vẫn không lấy được tiền hàng do người mua không tiến hành sửa đổi thời hạn hiệu lực đã hết của L/C. Nếu người bán không chấp nhận. Thực tiễn hoạt động kinh doanh cũng cho thấy có những trường hợp không cần phải thông báo cũng không cần quyết định của trọng tài. Lúc này. vẫn tiến hành giao hàng. người mua trả lại hàng cho người bán.  Bên bị thiệt hại có quyền đòi bên kia bồi thường. người mua có quyền kiện ra tòa. Người bán không giao hàng trong thời gian đã gia hạn. tổn thất phát sinh do việc áp dụng chế tài hủy hợp đồng gây ra đều do thụ trái. Người mua điện hủy nhưng người bán không chịu. các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng  Mỗi bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng. người mua không cần phải nhận hàng mà mọi phí tổn vẫn do người bán chịu. tòa án cũng chỉ xét xen đơn xin hủy hợp đồng có hội tụ đủ các điều kiện hủy theo luật định hay ước định không. nếu các bên đều có nghĩa vụ bồi hoàn thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời. nếu đang tiến hành thì phải ngừng lại. Nếu hợp đồng quy định phạt 5% nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. tòa án mà vẫn hủy. Việc áp dụng chế tài hủy hợp đồng để lại cho các bên những hậu quả pháp lý nhất định.

phạt và bồi thường và thường chỉ áp dụng khi các bên không thể áp dụng các chế tài khác. xuất trình chứng từ thì được lấy tiền. Khi lựa chọn áp dụng các hình thức trách nhiệm.) Chế tài hủy hợp đồng có thể được áp dụng đồng thời hay kết hợp với các chế tài khác như: phạt. thường là ngân hàng. Các chế tài thương mại này được bên bị vi phạm trực tiếp áp dụng đối với bên kia hoặc thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền (nộp đơn khởi kiện tại tòa án hay trọng tài). gồm: làm giảm tài sản. các bên khi thỏa thuận áp dụng chế tài hủy hợp đồng phải cân nhắc kỹ để tránh thiệt hại nhiều. chi phí đã chi ra cho đến lúc vi phạm nhưng không đạt được mục đích của hợp đồng (chi phí giao dịch. Trên thực tế. Trách nhiệm do hủy hợp đồng cũng thường lớn hơn thiệt hại thông thường. Song nếu đã có vi phạm hợp đồng hoặc một bên gặp bất khả kháng dẫn đến hợp đồng bị hủy thì ít nhất một bên của hợp đồng đã chịu thiệt hại hay đã phải bồi thường thiệt hại cho bên kia thì không thể coi là vẫn ở trạng thái ban đầu được. Mối quan hệ giữa các chế tài theo Luật thương mại Việt Nam.. Ví dụ như người bán gửi tiền vào tài khoản phong tỏa của ngân hàng. Việc lựa chọn hình thức trách nhiệm là khi có vi phạm hợp đồng là do bên bị vi phạm ấn định hoặc do các bên đã thỏa thuận sẵn trong hợp đồng.. việc hủy hợp đồng còn dẫn đến một hậu quả nữa là gây sự mất tín nhiệm đối với nhau. các bên hay áp dụng biện pháp bảo lãnh là thông qua người thứ ba. rồi chi phí mở L/C cộng với lãi của số tiền ký quỹ.chịu. bên phải trả sau thường không trả nữa) nên để bảo vệ quyền lợi của mình. khi người mua bốc hàng lên tàu. các bên có liên quan cần tìm hiểu kỹ mối quan hệ giữa các chế tài và tính toán kỹ sao cho để giảm thiểu thiệt hại phát sinh nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của mình. bồi thường. Do đó. lợi mất hưởng. chi phí phải chi thêm. Một chế tài thương mại có thể được áp dụng song song với một chế tài khác đối với cùng 24 . 5. Thực tế các nước phát triển như Đông Nam á cho thấy “việc bồi hoàn nghĩa vụ phải được thực hiện đồng thời” là rất khó khăn (do thường chỉ có một bên trả. do đó trở lại trạng thái ban đầu. Về mặt pháp lý thì có thể coi các bên đương sự không còn nghĩa vụ gì với nhau. ảnh hưởng đến quan hệ làm ăn sau này là điều mà không bên nào muốn. đàm phán. Việc hủy hợp đồng không có nghĩa là hai bên có thể trở lại trạng thái ban đầu như khi chưa ký hợp đồng.

Điều 225 của Luật thương mại Việt Nam quy định tiếp: “bên có quyền lợi bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Điều 225 Luật thương mại quy định: “bên có quyền lợi bị vi phạm không được áp dụng các chế tài phạt vi phạm. * Về quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm hợp đồng và chế tài đòi bồi thường thiệt hại Điều 234. song cũng có thể chỉ được phép lựa chọn giữa hai chế độ trách nhiệm. * Về mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các loại chế tài khác. còn bồi thường thiệt hại phải dựa trên thiệt hại thực tế của bên vi phạm. trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. bên bị vi phạm mới được đem các hình thức trách nhiệm khác ra áp dụng.một vi phạm. Khoản 1. nếu đã đòi tiền phạt (bồi thường thiệt hại ước tính) thì không được đòi bồi thường thiệt hại thực tế nữa.” Điều này có nghĩa là chỉ khi bên kia tuyên bố hoặc thông báo rằng anh ta sẽ không thực hiện yêu cầu mà bên bị vi phạm đề xuất.” Theo tinh thần của luật này thì vi phạm đó đã được áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì các bên không thể viện một lý do nào khác để tiếp tục bắt bên kia phải bồi thường thiệt hại hay nộp phạt cho chính vi phạm đã được giải quyết xong. Quy định này trong Luật thương mại Việt Nam có phần cứng nhắc so với Công ước Viên 1980 vì Công ước cho phép bên bị vi phạm hợp đồng vẫn được quyền đòi bồi thường thiệt hại trong khi áp dụng chế tài buộc thực hiện nghĩa vụ. Ví dụ như không thể bắt bên bán khi giao hàng kém phẩm chất phải nộp phạt 5% trị giá lô hàng đó. ngoài ra phải tiến hành sửa chữa khuyết tật hay thay thế hàng. Còn trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong thời hạn ấn định. Luật thương mại Việt Nam theo quan điểm rằng hai chế tài bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm về bản chất có nhiều điểm tương đồng: phạt vi phạm được coi là bồi thường thiệt hại ước tính.” Như vậy. bồi thường thiệt hại hoặc hủy hợp đồng. 25 . Luật thương mại Việt Nam cũng không quy định các bên có thể áp dụng chế tài phạt và bồi thường thiệt hại cho những vi phạm tiếp theo sau khi đã áp dụng chế tài thực buộc thực hiện đúng hợp đồng. Khoản 2. Luật thương mại Việt Nam quy định: “Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác thì bên có quyền lợi bị vi phạm được lựa chọn một trong hai chế tài là phạt vi phạm hoặc buộc bồi thường thiệt hại đối với cùng một vi phạm. Theo Luật thương mại Việt Nam thì nếu không có thỏa thuận trước. Do đó.

Trong khi đó.Ví dụ như hợp đồng quy định “nếu người bán không giao hàng thì phải nộp phạt 7% trị giá lô hàng” nhưng việc người bán không giao hàng trên thực tế đã làm cho người mua thiệt hại vượt quá mức phạt quy ước trên thì người có quyền lựa chọn áp dụng chế tài đòi bồi thường thiệt hại. III. luật một số nước cũng như Công ước Viên lại thừa nhận các biện pháp bảo hộ pháp lý mà cả hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng và mọi trường hợp vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên kia thì bên bị vi phạm có quyền sử dụng chế tài bồi thường thiệt hại dù hợp đồng có quy định hay không. Tùy mức độ vi phạm mà các chế tài trong Mục II có thể được áp dụng. Các trường hợp miễn trách do vi phạm hợp đồng trong hoạt động mua bán hàng hóa của thụ trái. Theo quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 1997 thì có hai trường hợp miễn trách. Ví dụ như hợp đồng chỉ ghi “phạt 5% nếu chậm giao hàng 10 ngày” thì người mua không chỉ được đòi tiền phạt khi người bán chậm giao hàng mà còn được đòi bồi thường thiệt hại. Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán. * Đối với chế tài hủy hợp đồng thì bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền áp dụng các hình thức trách nhiệm khác để bảo vệ quyền lợi của mình (Điều 237. ngoài ra còn phải bồi thường thiệt hại cho người mua”. Tóm lại. bên vi phạm hợp đồng có thể được miễn trách nhiệm trước bên kia nếu họ chứng minh được vi phạm đó thuộc căn cứ miễn trách (căn cứ miễn trách đó do hợp đồng hay luật liên quan có quy định mà khi gặp phải dẫn tới vi phạm thì không phải chịu trách nhiệm). các hình thức trách nhiệm lại có quan hệ mật thiết bổ sung cho nhau. 26 . Tuy nhiên. Cái khó là phải biết kết hợp các chế tài này để giải quyết vấn đề khi có vi phạm hợp đồng một cách hợp lý nhất nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên bị vi phạm. thậm chí không tách rời nhau. Luật thương mại Việt Nam chỉ cho phép áp dụng cả hai chế tài trên nếu trong hợp đồng các bên có thỏa thuận với nhau: “người bán phải nộp phạt 7% trị giá lô hàng nếu không giao hàng. Luật thương mại). nếu một bên vi phạm hợp đồng tức là thực hiện không đúng. không đầy đủ nghĩa vụ đã được quy định giữa hai bên trong hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm trước bên kia. mặc dù được vận dụng trong những tình huống vi phạm khác nhau.

đặc biệt là hợp đồng mua bán với các thương nhân nước ngoài. Luật thương mại). Điều này có nghĩa là vào lúc ký hợp đồng. do những sự kiện có tính chất bất thường xảy ra mà các bên không thể lường trước được và không thể khắc phục được. Miễn trách khi gặp bất khả kháng. các bên không dự kiến. Luật thương mại) Quy định này có nghĩa là nếu việc vi phạm hợp đồng của một bên rơi vào các trường hợp miễn trách quy định trong hợp đồng thì bên đó được miễn trách nhiệm. hiện tượng khách quan mới phát sinh.1. Như vậy. Tuy nhiên. không lường trước được hiện tượng khách quan sẽ xảy ra dù đã áp dụng mọi biện pháp và trình độ khoa học kỹ thuật sẵn có. Theo Công ước quốc tế và luật của các nước về hợp đồng mua bán hàng hóa thì sau khi ký hợp đồng. dự đoán của các bên đương sự. bất khả kháng là hiện tượng khách quan mà các bên không dự kiến hoặc khắc phục được. Theo đó. Khoản2. “các bên được miễn trách nhiệm về việc không thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận về các trường hợp miễn trách nhiệm đó. Tuy vậy. Còn theo Điều 77.” Từ quy định trên. Trường hợp bất khả kháng là căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thường được quy định phổ biến trong các hợp đồng mua bán. nếu một bên không thực hiện một phần hay toàn bộ hợp đồng vì gặp bất khả kháng thì không chịu trách nhiệm trước bên kia. để đáp ứng được điều kiện “không thể lường trước” thì hiện tượng khách quan 27 .” (Điều 77. tức là được miễn trách. ta có thể thấy bất khả kháng phải là một hiện tượng khách quan “do những sự kiện có tính chất bất thường xảy ra” mà “các bên không thể lường trước được”. Khoản 1. Còn thời điểm mà các bên không lường trước được là vào lúc ký hợp đồng. Khoản 2 của Luật thương mại Việt Nam thì quy định: “Trường hợp bất khả kháng là trường hợp xảy ra sau khi ký kết hợp đồng. các sự kiện được công nhận là bất khả kháng. tức là ngoài ý chí. không có định nghĩa thống nhất về bất khả kháng và cũng không có luật hay bất kỳ tài liệu nào liệt kê hết các trường hợp. nhưng sau khi ký hợp đồng. Theo Luật dân sự Việt Nam. 2. “Các bên được miễn trách nhiệm về việc không thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng nếu việc không thực hiện này do trường hợp bất khả kháng gây ra. Yếu tố lý trí của bất kỳ bên đương sự nào cũng không có ý nghĩa gì đối với hiện tượng khách quan.” (Điều 77. người ta cũng đưa ra một số tiêu chuẩn nhất định. để xác định một sự kiện nào là bất khả kháng. Miễn trách khi gặp các trường hợp đã được thỏa thuận trong hợp đồng.

bão kéo theo mưa lớn đối với người bán không được coi là bất khả kháng để miễn trách. Luật thương mại Việt Nam quy định bên vi phạm phải có “trách nhiệm chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm. bão kéo theo mưa lớn làm cho nước tràn vào kho chứa lạc.  Các trường hợp bất khả kháng phải được cơ quan. sau khi ký hợp đồng bán lạc. bên vi phạm hợp đồng phải gửi ngay thông báo bằng văn bản để phía bên kia được biết. khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt. Nếu hiện tượng khách quan xảy ra mà bên gặp phải có thể khắc phục được hậu quả của nó. do đó người bán không có đủ gạo để giao theo hợp đồng. cứ để hiện tượng đó xảy ra và do đó vi phạm hợp đồng thì hiện tượng này không được coi là bất khả kháng. Điều 77).phải xảy ra sau khi ký hợp đồng. nhưng không khắc phục. Điều này có nghĩa là một sự kiện bất thường khách quan xảy ra trước khi ký hợp đồng thì không được coi là bất khả kháng đối với bên vi phạm hợp đồng để được miễn trách nhiệm. lạc bị ẩm nhưng người bán lại không chịu phơi sấy nên lạc bị mốc không giao được cho người mua. bão lụt bất ngờ xảy ra sau khi ký hợp đồng bán gạo dẫn đến mất mùa. Chẳng hạn. Ví dụ. để một sự kiện bất thường được coi là bất khả kháng thì đó phải là sự kiện “không thể khắc phục được”. và vì hậu quả không thể khắc phục được đó mà bên đương sự không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng tức là vi phạm hợp đồng. Điều 78 Luật thương mại bên vi phạm phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ sau:  Bên không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể có. Quy định này được hiểu là khi gặp bất khả kháng. bên vi phạm phải chịu trách nhiệm trước bên bị vi phạm. Cụ thể hơn. phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia biết. Trong trường hợp này.” (Khoản 3. Đặc biệt. Đây là quy định mà luật pháp các nước đều áp dụng. Để được miễn trách nhiệm. bên đương sự đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng hiện có để khắc phục hiện tượng này và hậu quả của nó nhưng vẫn không tài nào khắc phục được. Tuy nhiên. hậu quả của việc không thông báo hay thông báo chậm về bất khả kháng theo luật pháp các nước lại có 28 . tổ chức có thẩm quyền xác nhận. Điều kiện này được giải thích là khi hiện tượng khách quan phát sinh. nếu không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại nếu có.

người nhập khẩu ký hợp đồng mua hàng của người xuất khẩu ngày ngày 25/7/1996. người thứ ba đòi người nhập khẩu phải bồi thường thiệt hại phát sinh do việc không giao hàng gây ra. Người vi phạm nghĩa vụ hợp đồng (không giao hàng hoặc giao hàng chậm. thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ thông báo về bất khả kháng gây ra còn gồm cả tiền phạt hoặc tiền thiệt hại mà bên bị vi phạm phải nộp cho người thứ ba vì không được thông báo hoặc thông báo chậm về bất khả kháng. nếu chỉ do sơ suất không thông báo hoặc thông báo chậm về bất khả kháng mà phải nộp phạt hoặc bồi thường thiệt hại do việc vi phạm hợp đồng thì trách nhiệm này quá nặng so với vi phạm nghĩa vụ thông báo.) do gặp bất khả kháng thì được miễn trách nhiệm. Ngoài ra. nhưng phải bồi thường thiệt hại phát sinh do việc không thông báo hay thông báo chậm gây ra. Người nhập khẩu viện lý do là người xuất khẩu bán hàng cho mình gặp bất khả kháng được miễn trách nhiệm nên người nhập khẩu cũng phải được miễn trách trước người thứ ba. người nhập khẩu ký hợp đồng bán lô hàng nhập khẩu này cho người thứ ba. tức là không được miễn trách nhiệm. Nhưng người thứ ba chứng minh được rằng bất 29 . do không thông báo về bất khả kháng. Các nước tư bản chủ nghĩa thì cho rằng: khi gặp bất khả kháng mà không thông báo hoặc thông báo chậm thì có nghĩa là không có bất khả kháng. song vào tháng 8/1996 lại xảy ra bất khả kháng ở nước người xuất khẩu nhưng người xuất khẩu không thông báo gì cho người nhập khẩu biết. Ngày 4/9/1996. còn vi phạm nghĩa vụ thông báo về bất khả kháng thì phải chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại do việc vi phạm này gây ra. Ví dụ... Rõ ràng là cách quy định này hợp lý hơn vì nó phù hợp với nguyên tắc vi phạm nghĩa vụ nào thì chịu trách nhiệm về việc vi phạm đó. Còn thiệt hại do việc vi phạm nghĩa vụ thông báo về bất khả kháng gây ra là những chi phí phải chi cho việc xác minh về bất khả kháng. ăn ở hoặc chi phí mua thông tin được coi là thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ thông báo gây ra. do đó sau này không được vận dụng bất khả kháng làm căn cứ miễn trách nhiệm vì đã vi phạm nghĩa vụ thông báo. hoặc nhờ cung cấp thông tin về bất khả kháng để xác minh là có thật thì chi phí đi lại. Hơn nữa. giao hàng tháng 8/1996. khi gặp bất khả kháng mà không thông báo hoặc thông báo chậm thì sau này vẫn được vận dụng bất khả kháng làm căn cứ miễn trách nhiệm.sự khác biệt. Vì bất khả kháng xảy ra nên người xuất khẩu không giao được hàng cho người nhập khẩu nên người nhập khẩu cũng không giao được hàng cho người thứ ba. Ví dụ. Còn theo luật của các nước XHCN như quy định trên của Luật thương mại Việt Nam. sau đó mới trình bày là đã gặp bất khả kháng để được miễn trách nhiệm nhưng bên bị vi phạm không tin phải bay sang nước xảy ra bất khả kháng để xác minh.

bao gồm chi phí xác minh bất khả kháng và khoản tiền thiệt hại mà người nhập khẩu đã phải bồi thường cho người thứ ba. bởi vì nếu có thông báo về bất khả kháng xảy ravào tháng 8/1996 một cách kịp thời thì người nhập khẩu đã không ký hợp đồng vào ngày 4/9/1996 bán lô hàng nhập khẩu đó cho người thứ ba và do đó không phải bồi thường thiệt hại. vì vậy người nhập khẩu phải bồi thường thiệt hại. Cuối cùng.khả kháng do người xuất khẩu gặp phải xảy ra trước khi người nhập khẩu đó ký hợp đồng bán hàng cho người thứ ba. cho nên người nhập khẩu đã lường trước được hoặc cần phải lường trước được.” 30 . người nhập khẩu đòi người xuất khẩu bồi thường thiệt hại do việc người xuất khẩu không thông báo bất khả kháng gây ra. Luật thương mại Việt Nam cũng quy định: “Các trường hợp bất khả kháng phải được cơ quan. Khoản 2. còn việc có đòi người xuất khẩu chịu trách nhiệm về việc không thông báo bất khả kháng hay không đó là việc của người nhập khẩu. Điều 78. tổ chức có thẩm quyền xác nhận. để chứng minh bất khả kháng xảy ra. Sau khi bồi thường thiệt hại cho người thứ ba do không giao hàng.

. Đặc biệt. song do chưa mạnh dạn áp dụng Điều ước quốc tế này nên chúng ta thường bị buộc phải áp dụng luật nước đối tác hay luật của nước thứ ba. I. nhất là các hợp đồng mua bán ngoại thương nên các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thật quan tâm đúng mức tới đạo luật này. bất cập nhất định và trong phạm vi tiểu luận này. Kiến nghị và giải pháp Luật thương mại Việt Nam ra đời muộn hơn Công ước Viên 17 năm và do đó. Những hạn chế của các quy định về chế tài thương mại theo Luật thương mại Việt Nam. do thói quen áp dụng pháp lệnh về hợp đồng kinh tế 1989 vào hợp đồng mua bán.. Điều này gây trở ngại cho các doanh nghiệp Việt Nam vì không phải nguồn luật nào cũng phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và dễ áp dụng. đặc biệt là với các nước thuộc khối EU.Phần III Hạn chế của các quy định về chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán theo Luật thương mại Việt Nam. còn rất mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam. đồng thời khuyến khích các bên thực hiện đúng các nghĩa vụ đã quy định trong hợp đồng 31 . Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc mở rộng quan hệ buôn bán với các nước phát triển. Hơn nữa. Không chỉ bởi thời gian ra đời còn ngắn ngủi. Đức. những quy định mới của nguồn luật này chưa được thực tế kiểm nghiệm nhiều so với các văn bản luật kinh tế khác. bất cập từ những quy định về chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.. một lý do nữa chính là bởi thực tiễn áp dụng Luật thương mại Việt Nam đã xuất hiện những hạn chế. Kiến nghị và giải pháp. Trong vài năm gần đây. Luật thương mại Việt Nam cũng có hiệu lực chưa lâu. chỉ xin bàn đến những hạn chế. Còn Luật thương mại của Việt Nam do thời gian xuất hiện chưa lâu nên phía nước ngoài không muốn áp dụng theo. Nhật Bản và Mỹ. Mặt khác.. Như phần trên đã nói. thực tiễn thương mại quốc tế cũng cho thấy các bên tham gia đàm phán ký kết hợp đồng thường chọn luật của các nước có nền ngoại thương phát triển như luật Anh-Mỹ. luật của Pháp. để đảm bảo quyền lợi cho bên bị vi phạm. là những nước hiện nay đã tham gia vào Công ước Viên 1980.

Điều 45. Còn theo quy định của Luật thương mại Việt Nam thì vô hình chung đã tước đi quyền lợi chính đáng của bên vi phạm khi không cho họ áp dụng các chế 32 . Về mối quan hệ giữa các biện pháp này.mua bán. Như trên đã nói. Khoản 2 trong Công ước Viên 1980 quy định: “người mua không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại khi họ sử dụng quyền dùng một biện pháp bảo hộ pháp lý khác. 1. Luật thương mại Việt Nam không cho phép bên có quyền lợi bị vi phạm trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được áp dụng các chế tài khác: phạt vi phạm. Về mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các chế tài khác. Luật thương mại Việt Nam quy định bốn loại chế tài áp dụng cho vi phạm hợp đồng:  Buộc thực hiện đúng hợp đồng. Khi một bên vi phạm hợp đồng. Cũng quy định về các hình thức trách nhiệm áp dụng khi vi phạm hợp. Các chế tài mà đạo luật này đưa ra về bản chất cũng giống với những quy định trong Công ước Viên 1980.  Hủy hợp đồng. song việc áp dụng lại nổi lên nhiều bất cập cần bàn. Công ước Viên 1980 sử dụng khái niệm: “các biện pháp bảo hộ pháp lý”. bồi thường thiệt hại hoặc hủy hợp đồng trừ khi có thỏa thuận khác. người mua có quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại đồng thời với các chế tài khác là thực hiện thực sự hay là buộc thực hiện đúng hợp đồng hoặc hủy hợp đồng. bên kia có quyền áp dụng các biện pháp bảo hộ pháp lý sau:  Thực hiện thực sự và giảm giá hàng.  Bồi thường thiệt hại.  Phạt vi phạm.  Bồi thường thiệt hại. Có thể thấy là Luật thương mại Việt Nam mới chỉ đưa ra những nguyên tắc chung nhất điều chỉnh quan hệ mua bán mà chưa có những chế định cụ thể phù hợp với xu thế giao thưong quốc tế.” Nói cách khác.  Hủy hợp đồng.

bị đơn giao các bao Urea có hàng bên trong đóng cứng hoặc vón cục từng phần. Song do người bán giao hàng kém phẩm chất làm chậm thời gian sử dụng hàng hóa của người mua (vi phạm thứ hai). Mặt khác. bị đơn chỉ mới trả 8. bị đơn đồng ý hỗ trợ cho nguyên đơn 11. người mua phải được quyền áp dụng chế tài phạt hay đòi bồi thường thiệt hại đối với vi phạm của người bán. hàng về đến cảng Sài Gòn.669. giữa nguyên đơn và bị đơn đã ký hợp đồng số TT-120896 và ngày 18/8/1996 đã ký tiếp phụ kiện hợp đồng số TT-120898. nguyên đơn mua của bị đơn 1. Vậy quy định nào phù hợp với thực tế hơn ? Trong thực tế thương mại. còn phạt là ngoài việc bồi thường các khoản thiệt hại ước tính còn có ý nghĩa giáo dục. thanh toán bằng L/C trả chậm 330 ngày kể từ ngày giao hàng.18 USD. nguyên đơn cho rằng bị đơn đã giao hàng kém chất lượng gây thiệt hại cho nguyên đơn. Ngày 13/3/1996. qua giám định độ biuret của Urea không đạt tiêu chuẩn quy định trong hợp đồng. nguyên đơn và bị đơn đã ký biên bản thỏa thuận. thay thế bao bì. Bồi thường là để bù đắp về mặt vật chất cho bên bị vi phạm. trừng phạt bên kia. nguyên đơn buộc phải chuyển hàng về kho để thuê tái chế. và nguyên đơn đòi bị đơn bồi thường các thiệt hại sau:  Số tiền hỗ trợ cho độ buret không đạt còn thiếu: 3. còn hành vi vi phạm ấy dẫn tới những thiệt hại cho bên bị vi phạm thì không thể được miễn trách nhiệm.700USD. trọng lượng bình quân mỗi bao không thống nhất với nhau (theo giấy chứng nhận giám định số 61345 G6 ngày 19/11/1996 của Vinacontrol). đóng gói lại. Bởi vì buộc thực hiện đúng hợp đồng mới chỉ là một chế tài mà bên bị vi phạm cưỡng chế bên kia hoàn thành nghĩa vụ của anh ta như đã thỏa thuận trước. ngày 22/10/1996. Ngày 6/9/1996. Trong thời gian đó. Ví dụ trong trường hợp người bán giao hàng kém phẩm chất (vi phạm thứ nhất) và người mua yêu cầu người bán sửa chữa khắc phục khiếm khuyết của lô hàng trong thời gian 20 ngày bổ sung. Nhưng thực tế. 33 . Do đó. Như vậy là quy định về việc áp dụng hai chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các chế tài khác trong Luật thương mại Việt Nam là khác so với Công ước Viên 1980. còn thiếu 3030.300 MT phân Urea 5%.tài khác trong lúc áp dụng hình thức buộc thực hiện đúng hợp đồng.82 USD.030. khi áp dụng chế tài thực hiện thực sự thì luôn đi kèm với phạt hoặc bồi thường thiệt hại. Vi phạm sau đây sẽ minh chứng cho điều ấy.18 USD. Vì vậy. theo đó. Khi đó. theo Luật thương mại Việt Nam thì người mua không được quyền áp dụng các chế tài nào khác. Từ đó. theo đó.

021.684. Chi phí tái chế.331 USD ( 1 USD = 11. đóng gói lại lô hàng: 173.019.574.040 VND + Bốc xuất kho: 6. F.100 VND/1 bộ trừ tiền bán bao bì cũ (1.915.345 VND = 11.240 VND gồm: + Bốc nhập kho: 7.768.100 VND + Phí trung chuyển phục vụ đóng gói: 2.000 VND 34 .871.200 VND.670 VND.314.650 VND) Trong biên bản biện minh ngày 29/8/1997. thay thế bao bì gồm: A.779 USD + 297.319.093.000 VND.000 VND.000 VND /tấn/tháng  2.5 tháng = 32.675 VND. C. bị đơn không đồng ý thời gian lưu kho là 3 tháng rưỡi mà chỉ chấp nhậ là 2 tháng rưỡi kể từ ngày 29/10/1996 (theo hợp đồng thuê kho) đến ngày 14/1/1997: 1.080 bộ  3. bị đơn trình bày như sau.25%/tháng  6 tháng = 20.25%/tháng  3 tháng = 11. D.915.799 USD + Lãi đọng vốn của các chi phí đã bỏ ra (A+B+C+D): 276.250 VND + Phí bốc xếp nhập tái chế: 2.889.880 VND.128.694. Chi phí bốc xếp 14. Bị đơn chấp nhận cách tính và mức tính và mức thiệt hại do nguyên đơn đã nêu ra trừ các trường hợp sau: Một là mục B. Cộng F+G=11.800 VND + Chi phí mua bao bì mới: 27.855. B.150 VND  1.099. Cộng chi phí A+B+C+D=276.400 VND.000. Chi phí tái chế.000 VND): 82. Chi phí bảo quản chờ đóng gói lại từ 1/10/1996 đến 15/1/1997 là 46.304.84 tấn 10.463. E. G.779 USD + 25.552 USD = 37. Chi phí giám định: 13. Lãi gồm: + Lãi đọng vốn nhập khẩu 3 tháng kể từ ngày 22/10/1996 đến ngày 17/1/1997: 314.150 VND gồm: + Chi phí gia công đóng gói lại: 86. Chi phí vận chuyển hàng từ cảng Bến Nghé về cảng Rau quả (66 container): 33.43 USD  1.

Phí bốc nhập hàng vào kho để tái chế. (11 tháng) chênh lệch giữa đơn giá bán trả chậm và đơn giá bán trả ngay là 24. đóng gói lại hàng. B.000 VND/tấn/tháng  2.500 bao trị giá 82.5 tháng = 32. Thứ ba. về các chi phí tái chế.871. ủy ban trọng tài đã phân tích sự việc như sau: Thứ nhất.025 USD). tức từ 29/10/1996 đến 15/1/1997 (2 tháng rưỡi) là: 1. bởi vì nếu không phải tái chế.030. Do đó.040 VND. đóng gói lại và các chi phí liên quan khác.889.50 USD  206. người mua phải lo và chịu các chi phí bốc xếp tại kho. Phí bốc xuất hàng từ kho cảng kể cả khi không phải tái chế.304. nguyên đơn không có quyền đòi bồi thường chi phí này. C. bị đon phải bồi thường cho nguyên đơn các chi phí phát sinh trực tiếp từ việc tái chế đóng gói lại lô hàng. Lô hàng này tuy có vấn đề phát sinh nhưng cũng chỉ có một đợt bốc xếp tại cảng.475 USD (231.84 tấn  10.124 %/tháng vì số tiền hàng nhập khẩu nguyên đơn trả theo phương thức L/C trả chậm 330 ngày. bị đơn không thừa nhận thiệt hại của mục C và mục D vì theo hợp đồng ngoài thương và thực tiễn trọng tài Việt Nam. Do đó. bị đơn đề nghị mức lãi suất hợp lý là 1. Chi phí giám định: 13. Chi phí lưu kho để đóng gói lại hàng chỉ được tính căn cứ vào hợp đồng thuê kho và phiếu chi tiền thuê kho.000 VND theo hợp đồng mua bao bì và phiếu chi. Chi phí vận chuyển hàng từ cảng Bến Nghé về cảng Rau quả không phải là thiệt hại trực tiếp do phải tái chế. Sau khi xem xét vụ việc. bị đơn chỉ thừa nhận 26. Vì vậy. đóng gói lại lô hàng là 7.Thứ hai.000 VND. vận chuyển về kho và bốc xếp tại kho như các lô hàng khác. cho nên nguyên đơn phải tái chế đóng gói lại. vì nguyên đơn phải bốc hàng từ kho để vận chuyển giao cho người mua lại hoặc chở về kho của mình.700 USD theo biên bản thỏa thuận ngày 22/10/1996 nhưng còn thiếu 3.314. vì giao hàng có độ biuret không đạt tiêu chuẩn do hợp đồng quy định và bị đơn đã cam kết hỗ trợ cho nguyên đơn 11. bị đơn phải có trách nhiệm trả tiền cho nguyên đơn số tiền này (1) Thứ hai. đóng gói lại hàng thì nguyên đơn vẫn phải chi.880 VND. trọng lượng các bao không đồng đều.18 USD. Thực tế bị đơn giao các bao urea bên trong có vón cục hay đóng cứng. Thứ tư. lãi đọng vốn nhập khẩu trong mục G. về chi phí mua bao bì mới trong mục E.150. đóng gói lại hàng thì nguyên đơn vẫn 35 . cụ thể gồm: A.

Nếu chậm trả.000 VND = 80.395.419. + Phí trung chuyển phục vụ đóng gói: 82.700 VND : 11.250 VND.100 VND/1 bao  1.591.86 USD trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày công bố phán quyết.124%/tháng là hợp lý.591. người bán đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng.419. bị đơn không có trách nhiệm đòi bồi thường chi phí này.299.299.43 USD + (242. ủy ban trọng tài quyết định áp dụng đồng thời cả hai hình thức chế tài là buộc thực hiện đúng hợp đồng và bồi thường thiệt hại.904.030.phải có nghĩa vụ chuyển hàng từ cảng Bến Nghé về kho của mình hoặc để giao cho người mua lại.591.395. Trong vụ tranh chấp trên đây. Lãi đọng vốn giám định.86 USD.650 VND là: 10. ủy ban trọng tài quyết định rằng bị đơn phải trả cho nguyên đơn 34.500 bao  3.25%/tháng  6 tháng = 16. Chi phí tái chế đóng gói lại lô hàng gồm: + Chi phí gia công đóng gói lại: 86.021.43 USD + 242. + Chi phí mua bao bì mới theo hợp đồng mua bán bao bì và phiếu chi trừ tiền bán bao bì cũ là : 26.100 VND.070 VND + 10.124%/tháng  3 tháng = 10.700 VND Quy đổi USD theo tỷ giá 1 USD=11.630 VND.43 USD. đóng gói lại: 225. giao hàng không đúng chất lượng thỏa thuận trong hợp đồng. D. thuê kho. Lãi đọng vốn nhập khẩu tính theo mức 1. bị đơn phải trả thêm lãi suất theo mức công bố của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. + Phí bốc xếp nhập tái chế: 2. Tổng cộng (1) + (2) = 3. Cộng A+B+C+D = 225.43 USD  1.591. Căn cứ vào những phân tích trên. mua bao bì. Vì vậy.200 VND. do đó gây thiệt hại cho người mua.700 VND  1.099.694. Vì vậy.68 = 34.855.070 VND. vì nguyên đơn thanh toan tiền hàng theo phương thức L/C trả chậm 330 ngày (tức 11 tháng): 314.386.295. Cộng A+B+C+D+E+F = 225. F.630 VND = 10.43 USD + 16.800 VND.18+31.904. * Buộc thực hiện đúng hợp đồng thể hiện ở chỗ: 36 .389. E.68 USD (2).650 VND) = 31.319.395.

đóng gói lại. Luật thương mại.. 2.5 tháng). trong trường hợp này là chi phí lưu kho (trong 2. Nếu Công ước Viên không đề cập gì đến biện pháp bảo hộ pháp lý này thì Luật thương mại Việt Nam lại đưa ra những quy định tương đối cụ thể về phạt vi phạm. . Luật thương mại). phí bốc nhập hàng vào kho để tái chế.Người bán phải trả cho người mua các chi phí mà người mua đã bỏ ra để tự sửa chữa. việc áp dụng chế tài này là hoàn toàn không có gì vướng mắc. Khoản 4. Về chế tài phạt vi phạm Phạt vi phạm được coi là một trong những chế tài được áp dụng phổ biến trong quan hệ hợp đồng. trong hợp đồng ký kết giữa hai bên có thỏa thuận áp dụng phạt vi phạm cho vi phạm này và mức phạt do hai bên thỏa thuận là 7% trị giá hàng không giao. 37 .Người bán phải trả chi phí giám định (vì nếu người bán đã giao hàng phù hợp thì không phát sinh khoản chi phí này) và lãi đọng vốn của khoản tiền giám định. Trên thực tế. khắc phục khuyết tật của hàng hóa. Theo Điều 223. Luật thương mại. đóng gói lại hàng. đặc điểm của chế tài này là bên vi phạm phải trả cho bên có quyền lợi bị vi phạm một khoản tiền phạt nhất định do hành vi vi phạm hợp đồng của mình không phụ thuộc việc bên bị vi phạm có thiệt hại thực tế hay không. bên vi phạm sẽ chỉ có nghĩa vụ thanh toán các “chi phí thực tế hợp lý”.Người bán phải trả cho người mua lãi đọng vốn nhập khẩu trong thời gian chờ đóng gói lại do chưa thể đưa hàng vào tiêu thụ trong khoảng thời gian này. Phạt vi phạm sẽ được áp dụng “nếu trong hợp đồng có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” (Điều 226.700 USD do hàng giao có độ biuret khong đạt tiêu chuẩn đã thỏa thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên. * Bồi thường thiệt hại thể hiện ở chỗ: . mua bao bì. Theo Điều 228. Theo Luật thương mại. khi một bên vi phạm hợp đồng (ví dụ người bán không giao hàng) có thể xảy ra 3 khả năng:  Thứ nhất. . Trong trường hợp này. Do đó.Người bán cam kết hỗ trợ cho người mua 11. thuê kho. quy định của hợp đồng hoàn toàn phù hợp với Lụât thương mại (có thỏa thuận về trường hợp áp dụng phạt và mức phạt không quá 8% trị giá phần nghĩa vụ vi phạm). các bên được tự do thỏa thuận về mức phạt cho các vi phạm song tổng mức phạt không được vượt quá 8% trị giá phần nghĩa vụ bị vi phạm. Luật thương mại không có quy định về trường hợp cụ thể nào sẽ áp dụng chế tài phạt.

và nếu được lập một cách hợp pháp thì pháp luật bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của các bên xuất phát từ hợp đồng ấy. .Vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Mặt khác. Vì vậy sẽ không thể áp dụng chế tài phạt. công việc đã hoàn thành đúng hợp đồng.Vi phạm nghĩa vụ tiếp nhận sản phẩm. người bán vi phạm không giao hàng song hợp đồng không có thỏa thuận áp dụng phạt vi phạm cho trường hợp này. . Đây cũng là một đặc điểm mà Luật thương mại Việt Nam cần lưu ý. nếu điều khoản phạt quy định trong hợp đồng đưa ra mức phạt % cao hơn quy định của pháp luật thì mức % phạt trong hợp đồng lại không được thực hiện mà phải điều chỉnh xuống cho phù hợp với những quy định của pháp luật. việc quy định mức phạt tối đa 8% tổng trị giá hàng bị vi phạm hợp đồng đôi khi làm cho vai trò của chế tài này trong hợp đồng bị giảm đi đáng kể bởi vì hợp đồng hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên. hoàn toàn không thực hiện hợp đồng. Như vậy. Mặc dù việc quy định giới hạn tối đa đòi tiền phạt sẽ góp phần hạn chế việc lạm dụng chế tài này song vô hình chung luật lại không tôn trọng thỏa thuận các bên trong hợp đồng. hàng hóa. . tại Điều 13 Nghị định số 17HĐBT ngày 16/1/1990 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 có quy định khung phạt cụ thể đối với từng loại vi phạm: . Trong khi đó. Luật thương mại không có quy định áp dụng chế tài phạt cho trường hợp này. công việc một cách đồng bộ.Vi phạm nghĩa vụ không hoàn thành sản phẩm hàng hóa. có thể thấy khi triển khai áp dụng quy định của Luật thương mại về phạt vi phạm sẽ nảy sinh những vướng mắc trong thực tế. . Điều này làm cho chế tài phạt của hợp đồng bị mất tác dụng. Qua đó. 38 . Thế nhưng. do vậy trường hợp này sẽ được giải quyết như thế nào?  Thứ ba.Vi phạm chất lượng.Vi phạm thời hạn thực hiện hợp đồng. trong hợp đồng có thỏa thuận tương tự trường hợp trên song lại quy định mức phạt là 10% trị giá hàng không giao. Thứ hai. Mức 10% do hai bên thỏa thuận lại vượt quá quy định của Luật thương mại là 8%.

kịp thời. nên chăng Luật thương mại cần có những quy định áp dụng phạt vi phạm cũng như mức phạt đối với một số hành vi vi phạm cụ thể như không giao hàng. giao hàng chậm. không thanh toán. dù chỉ một bên vi phạm hợp đồng “bên nào bị buộc phải có những biện pháp bảo quản hàng hóa có thể giao hàng vào kho của bên thứ ba với chi phí bên kia chịu với điều kiện là các chi phí này phải hợp lý” (Điều 87. Ví dụ trường hợp bên bán khi thấy giá hàng đang lên và mình có thể bán ra thị trường cho nhà nhập khẩu khác với giá cao hơn hẳn so với giá hợp 39 . Luật thương mại Việt Nam không cho phép áp dụng đồng thời cả chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm trừ trường hợp có thỏa thuận khác. nghĩa là các bên chỉ được lựa chọn áp dụng một trong hai hình thức trên. song số tiền bồi thường thiệt hại lại chỉ bao gồm giá trị tổn thất thực tế. trực tiếp và khoản lợi đáng lẽ được hưởng mà không bao gồm các phần chi phí chi ra chi thêm cho việc hạn chế tổn thất.Dựa vào khung phạt này. Điều này có phần hơi cực đoan cho bên có quyền lợi bị vi phạm vì đôi khi bồi thường thiệt hại chỉ bù đắp về mặt vật chất cho bên bị vi phạm mà chưa có ý nghĩa trong việc ngăn ngừa và giáo dục bên kia trong việc thực hiện nghiêm túc hợp đồng.. Vì vậy. Khác với Công ước Viên 1980. Tuy nhiên. 3. giao hàng kém phẩm chất . lưu bãi thì bên bị vi phạm vẫn được quyền hành động và giữ lại một phần tiền hàng để bù đắp chi phí. bảo quản hàng hóa bằng các biện pháp hợp lý. các bên có thể thỏa thuận những mức phạt cụ thể trong hợp đồng. Luật thương mại Việt Nam cho rằng bên đòi bồi thường thiệt hại có trách nhiệm hạn chế tổn thất. Công ước Viên thì quy định rằng bên bán và bên mua hàng đều phải có ý thức bảo quản hàng hóa. Luật thương mại Việt Nam lại không nêu cụ thể bên bị vi phạm sau khi áp dụng các biện pháp hạn chế tổn thất có được quyền đòi bên kia bù đắp những chi phí này không ? Trong Công ước Viên quy định rõ bên vi phạm phải trả cho bên có quyền lợi bị vi phạm những chi phí hạn chế tổn thất.để các bên trong hợp đồng mua bán có căn cứ cụ thể để giải quyết khi một bên vi phạm hợp đồng. nếu không sẽ bị giảm khoản tiền bồi thường thiệt hại. Quy định này thể hiện sự đẩy đủ và có thể điều chỉnh ở phạm vi rộng hơn so với quy định của Luật thương mại. Luật thương mại Việt Nam coi việc hạn chế tổn thất là một nghĩa vụ của bên đòi bồi thường. Nghị định cũng đưa ra giải pháp cho trường hợp hợp đồng kinh tế không có thỏa thuận cũng như pháp luật chưa có quy định mức phạt. Bên cạnh đó. hàng lưu kho. Công ước Viên 1980) Hơn nữa. Về chế tài bồi thường thiệt hại.. thậm chí nếu phải phát mại hàng hóa.

Trong những trường hợp này. chế tài thương mại chỉ phát huy được vai trò bù đắp tổn thất cho bên bị vi phạm mà thôi. Từ những hạn chế trên. Trong chế tài này. Khi đó. Luật thương mại chỉ cho phép các bên áp dụng hủy khi vi phạm của bên kia là điều kiện để hủy hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận trước có nghĩa là bên bị vi phạm sẽ không được sử dụng chế tài này nếu đã không quy định trong hợp đồng. thậm chí có thể tạo cơ hội cho bên kia gian lận trong thương mại. Hơn nữa. Luật thương mại Việt Nam cần nêu cụ thể hơn nữa liệu bên bị vi phạm hợp đồng sau khi đã áp dụng các biện pháp để hạn chế tổn thất (do lỗi của bên kia gây ra) thì có được đòi lại các chi phí phát sinh đó không và phải được áp dụng đồng thời cả hai chế tài bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm. trường hợp nào được đòi tiền phạt mà trong quá trình thực hiện hợp đồng. các bên đương sự thực hiện hợp đồng theo nguồn luật này có thể sẽ có những bất đồng ý kiến thậm chí dẫn đến tranh chấp. Còn Công ước Viên 1980 lại cho rằng một bên khi xét thấy bên kia không có đủ khả năng thực hiện hợp đồng hoặc sẽ không thực hiện đúng hợp đồng thì có quyền tuyên bố chấm dứt hợp đồng cho dù hai bên chưa thực hiện nghĩa vụ gì. một bên bị vi phạm nghĩa vụ nghiêm trọng song bên kia theo Luật thương mại Việt Nam lại không thể áp dụng hình thức trách nhiệm này thì việc tiếp tục duy trì thực hiện hợp đồng chỉ gây bất lợi cho bên bị vi phạm. ngay cả khi không thỏa thuận trước trong hợp đồng 40 . bên mua đành phải chấp nhận khoản tiền bồi thường thiệt hại mà không thể đòi bên kia tiền phạt do không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. song khoản tiền lãi thu được vẫn nhiều hơn thì vì khoản lợi trước mắt. Khi đã không quy định trường hợp nào hủy hợp đồng. Quy định này sẽ gây cản trở cho phía bị vi phạm vì đôi khi các bên ký hợp đồng một cách vội vã nhằm chớp thời cơ nên không quy định một cách đầy đủ cụ thể các chế tài vào trong hợp đồng được. họ sẽ vi phạm hợp đồng. Về chế tài hủy hợp đồng. 4. Còn Công ước Viên 1980 lại thừa nhận quyền đòi bồi thường thiệt hại đương nhiên của bên bị vi phạm mà bên bị vi phạm vẫn được phép sử dụng các biện pháp bảo hộ pháp lý khác. Quy định này của Công ước Viên tuy chưa cụ thể song lại khái quát được nhiều trường hợp và do đó các bên có thể dẫn chiếu vào hợp đồng một cách linh hoạt hơn. Nếu không quy định rõ ràng.đồng đã ký vì bên bán tính toán rằng việc vi phạm hợp đồng sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia.

Ngày 20/9/1995. bên B bán cho bên A 11.50 USD/MT CFR Đà Nẵng thanh toán bằng thư tín dụng không hủy ngang bằng 100% trị giá hóa đơn. Người bán đã vài lần cam kết sẽ giao hàng song đến hết tháng 5/1996 mà hàng vẫn chưa được giao. một công ty Việt Nam (gọi là bên A) và một công ty nước ngoài (gọi là bên B) ký hợp đồng mua bán số JFT/HNT/96/06.546 MT xi măng lên tàu Mukachevo. Tàu đã đến cảng Đà Nằng ngày 5/4/1996 nhưng A chưa mở L/C nên việc dỡ hàng không thể thực hiện được. thanh toán bằng tín dụng thư không hủy ngang được mở trước ngày 30/9/1995. trong hai trường hợp trên. chế tài này không thể được áp dụng cho dù bên bị vi phạm bị thiệt hại nghiêm trọng và quyền lợi cũng không được đảm bảo nếu người đó tiếp tục thực 41 . B đã giục A mở L/C nhiều lần nhưng đến ngày 19/4/1996. Trong hai ví dụ trên đây. Tuy nhiên. Singapore 0104. Ví dụ 2: Người bán vi phạm hợp đồng cụ thể là không giao hàng. Ví dụ 1: Người mua vi phạm hợp đồng-cụ thể là không mở L/C. Thực tế cũng đã cho thấy hủy hợp đồng thường chỉ được áp dụng khi một bên vi phạm nghiêm trọng hợp đồng gây ảnh hưởng tới bên kia. nếu các bên không thỏa thuận trong hợp đồng rằng trường hợp này sẽ được phép hủy hợp đồng thì theo quy định của Luật thương mại Việt Nam. một công ty Việt Nam ký hợp đồng mua bán với người bán nước ngoài theo đó người bán phải giao hàng cho người mua trong tháng 12/1995. A vẫn chưa mở L/C. một bên vi phạm nghiêm trọng hợp đồng gây thiệt hại cho bên kia và hợp đồng không thể và không cần phải tiếp tục được thực hiện nếu bên vi phạm vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình. Thực hiện hợp đồng. trả chậm 360 ngày kể từ ngày ký vận đơn. Thư tín dụng (L/C) phải được mở chậm ngày 8/4/1996 tại Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam tới Ngân hàng thông báo là Banque Nationale de Paris 20 Collyer Quay Tung Centre. Ngày 28/9/1995.500 MT xi măng Trung Quốc với giá 57. theo đó. B đã giao 11. người mua đã mở L/C cho người bán hưởng và thúc giục người bán giao hàng. Ngày 30/2/1996.thì các bên vẫn có quyền tuyên bố hủy hợp đồng nếu bên kia vi phạm nghiêm trọng những điều khoản cơ bản của hợp đồng. vận đơn số 96 LX322 ký ngày 30/3/1996. Quy định này sẽ phát huy được vai trò của chế tài hủy hợp đồng và đưa chế tài này trở thành một vũ khí bảo vệ quyền lợi cho bên bị vi phạm hợp đồng.

B hoàn toàn có quyền đòi A bồi thường. Nếu trong hợp đồng có quy định trường hợp này được phép áp dụng chế tài hủy hợp đồng thì hợp đồng được hủy và để lại cho các bên hậu quả pháp lý như quy định tại Điều 237 Luật thương mại (trong đó có Khoản 3 nêu trên). Luật thương mại đề cập những hậu quả này tại Điều 237. 42 . lợi dụng kẽ hở của pháp luật mà gây khó dễ cho bên bị vi phạm. Quy định của Luật thương mại vì vậy là chưa chặt chẽ và chưa đảm bảo được quyền lợi của các bên trong quan hệ mua bán. Điều 419. Khoản 3 nói trên thì A cũng có quyền đòi B bồi thường. dẫn đến hủy hợp đồng nhưng điều đó không có nghĩa là A không thể bị thiệt hại. B thực hiện đúng nghĩa vụ của mình nhưng A không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. trong đó có Khoản 3 như sau: “Bên bị thiệt hại có quyền đòi bên kia bồi thường. Chiếu theo Điều 237. Tuy nhiên.” Theo quy định này của Bộ Luật Dân sự.” Điều này có hoàn tòan phù hợp với thực tế không? Chẳng hạn trong ví dụ 1 trên đây.hiện hợp đồng. Đây cũng là một sai sót nhỏ của Luật thương mại Việt Nam 1997 và để tránh trường hợp các bên vi phạm nghĩa vụ tranh cãi. mặc dù A đã vi phạm. vì hợp đồng bị hủy A không có hàng giao và phải chịu trách nhiệm vật chất trước khách hàng của mình tức là A cũng bị thiệt hại. Điều này phù hợp với thực tế và hợp lý hơn so với quy định của Luật thương mại.” Đề cập đến hậu quả pháp lý khi hủy bỏ hợp đồng. cụ thể là không mở L/C. Điều này hoàn toàn không hợp lý. Ví dụ A có ký kết hợp đồng bán lô hàng nói trên cho khách hàng trong nước. người phải bồi thường thiệt hại sẽ chỉ là A. Khoản 4 Luật Dân sự quy định: “Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị hủy bỏ phải bồi thường thiệt hại. Do đó. Luật thương mại nên ghi cụ thể: “Bên bị vi phạm chịu thiệt hại có quyền đòi bên kia bồi thường. B bị thiệt hại do đã giao hàng lên tàu. trong trường hợp trên. A không mở L/C nên B không thể giao hàng. Việc hủy hợp đồng để lại cho các bên những hậu quả pháp lý nhất định.

vì luật pháp các nước quy định khác nhau về bất khả kháng nên để được hưởng căn cứ miễn trách này. Trường hợp đình công được hầu hết các nước thừa nhận là bất khả kháng. Trên thực tế. nếu theo quan 43 . trong thực tế ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương. nghĩa là hậu quả xảy ra có thể khắc phục được nên không thể được coi là bất khả kháng? Ngoài ra. các bên thường liệt kê các trường hợp được coi là bất khả kháng trong hợp đồng nhưng Luật thương mại Việt Nam lại không hề đưa ra một sự kiện cụ thể nào để được coi là bất khả kháng. quy định này của Luật thương mại đã quy định khá tổng quát về trường hợp bất khả kháng mà theo đó.  Các bên không thể khắc phục được. Tuy nhiên. có một số trường hợp mà phần lớn luật pháp của các nước đều công nhận là bất khả kháng để làm căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa như bão lụt. Như vậy. cũng theo luật về đình công của Liên Xô cũ. 1. do những sự kiện có tính chất bất thường xảy ra mà các bên không thể lường trước được và không thể khắc phục được.  Các bên không thể lường trước được. lệnh cấm xuất nhập khẩu. bất khả kháng là trường hợp xảy ra sau khi ký kết hợp đồng. muốn tổ chức đình công thì phải tiến hành thông báo trước cho chính quyền một số ngày. Những hạn chế của các quy định về các trường hợp miễn trách do vi phạm hợp đồng mua bán ngoại thương theo Luật thương mại Việt Nam . Còn nếu diễn ra ở quy mô nhỏ thì các nhà chức trách địa phương có thể dẹp đình công bằng cách thỏa mãn các yêu cầu của người đình công.Kiến nghị và giải pháp. Luật thương mại Việt Nam. đình công..  Xảy ra sau khi ký hợp đồng. Theo Điều 77. theo quan điểm của Liên Xô cũ.. một sự kiện muốn được coi là bất khả kháng phải hội tụ đủ 4 điều kiện sau:  Là những sự kiện có tính chất bất thường (sự kiện xảy ra một cách khách quan). thiên tai. Cần quy định một số trường hợp phổ biến như đình công. Tuy nhiên. Như vậy.II. lệnh cẫm xuất nhập khẩu của Nhà nước là những trường hợp bất khả kháng để làm căn cứ miễn trách nhiệm. đình công muốn được coi là bất khả kháng để làm căn cứ miễn trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng thì phải diễn ra trên quy mô toàn quốc thì mới không thể khắc phục được hậu quả của nó.

Khi có bất khả kháng xảy ra. Như vậy. người gặp bất khả kháng đều cung cấp giấy chứng nhận 44 . 2. Khoản 2. phía bên kia cũng không thể đòi công ty của Việt Nam bồi thường thiệt hại được. Hy vọng rằng Luật thương mại Việt Nam trong thời gian tới nếu có quy định đình công là trường hợp bất khả kháng thì không nên quy định cứng nhắc như vậy. Đặc biệt. nếu vi phạm hợp đồng không nhập khẩu thì có thể bị phạt và có khi phải bồi thường thiệt hại. Luật thương mại Việt Nam cũng cần sớm quy định cụ thể lệnh cấm xuất nhập khẩu của Nhà nước phải được coi là trường hợp bất khả kháng vì đây chính là một trong những công cụ hữu ích để Nhà nước lợi dụng nhằm gỡ thế bí cho các thương nhân trong nước. Nhà nước lại ban một lệnh cấm xuất khẩu mặt hàng này. cũng với nghĩa vụ thông báo bằng văn bản về bất khả kháng để phía bên kia được biết. Những ví dụ sau sẽ minh chứng cho điều đó: Ví dụ 1: Một công ty của Việt Nam ký một hợp đồng nhập khẩu một chiếc máy chế tạo giấy đã qua sử dụng với một công ty của Nhật Bản.điểm này thì để trường hợp đình công được coi là bất khả kháng để làm căn cứ miễn trách nhiệm quả không dễ chút nào. Nhưng sau đó. Điều 78. qua tìm hiểu. công ty Việt Nam đã nhờ Nhà nước can thiệp bằng cách ban hành một lệnh cấm nhập khẩu mặt hàng này và sau đó chỉ cần gửi lệnh này cho bên kia để miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa. Ví dụ 2: Một công ty của Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu một lô hàng sang nhà nhập khẩu nước ngoài nhưng giá bán trong hợp đồng lại quá thấp so với giá trị thực tế của lô hàng đó. Luật thương mại Việt Nam cũng như luật của các nước và công ước quốc tế hiện hành đều không có quy định gì về việc người gặp bất khả kháng phải cung cấp giấy chứng nhận bất khả kháng và cơ quan nào có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận bất khả kháng. Như vậy. Do đó. Nhưng trong thực tế. để cứu công ty của Việt Nam khỏi bị thiệt hại nặng. để chứng minh bất khả kháng đã xảy ra. Giấy chứng nhận bất khả kháng như thế nào được coi là hợp lý. Lúc này. Luật thương mại Việt Nam còn quy định “các trường hợp bất khả kháng phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận”. trị giá hợp đồng là 3 triệu USD. phía Việt Nam biết được rằng một chiếc máy mới cũng chỉ có mức giá khoảng bằng 2/3. Vì vậy. Còn nếu tiến hành nhập khẩu thì rõ ràng phía Việt Nam bị lỗ rất nặng.

Nhưng nhà sản xuất gặp bất khả kháng nên không có hàng giao cho người xuất khẩu. mặc dù hình thức của giấy chứng nhận này là hợp lệ. Luật thương mại Việt Nam cũng cần quy định rõ về nội dung của giấy chứng nhận. để tránh tranh chấp. Nên chăng. Nếu giấy chứng nhận bất khả kháng không ghi gì về thời gian. Người xuất khẩu đòi được miễn trách trước người nhập khẩu vì nhà sản xuất bán hàng cho mình gặp bất khả kháng. tức là không đủ giá trị chứng minh bất khả kháng là có thật.. 3. Một giấy chứng nhận về bất khả kháng chỉ được coi là hợp lệ khi nó có nội dung rõ ràng. sau khi ký hợp đồng mua hàng của nhà sản xuất (gọi là người thứ 3). trường hợp này cần được Luật thương mại Việt Nam đưa vào các quy định về trường hợp miễn trách do vi phạm hợp đồng vì những lý do sau: 45 . hoặc hậu quả của bất khả kháng thì nội dụng của giấy chứng nhận bất khả kháng đó bị coi là không hợp lệ. Luật thương mại Việt Nam cần quy định cụ thể hơn về các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận bất khả kháng để tránh tranh chấp có thể xảy ra khi các bên lợi dụng quy định “cơ quan có thẩm quyền cấp” bởi trên thực tế không phải trường hợp nào cũng có thể xác định được đâu là cơ quan có thẩm quyền. cụ thể. Chẳng hạn. địa điểm xảy ra bất khả kháng. Trường hợp xảy ra khi bên vi phạm hợp đồng không trực tiếp gặp bất khả kháng song vẫn đòi được miễn trách nhiệm vì người thứ ba có quan hệ hợp đồng với mình gặp bất khả kháng. bất khả kháng chưa xảy ra đối với nhà sản xuất. địa điểm xảy ra bất khả kháng. người xuất khẩu cũng không có hàng giao cho người nhập khẩu. Tuy nhiên nếu lấy giấy chứng nhận bất khả kháng do thưong vụ cấp thì sẽ không được coi là hợp lệ bởi vì thương vụ không thể nào là cơ quan cấp loại giấy chứng nhận này. Cần quy định thêm trường hợp miễn trách khi người thứ ba có quan hệ hợp đồng với bên vi phạm gặp bất khả kháng. Như vậy.) Vì vậy.. chính xác về thời gian. Mặt khác. Tùy từng trường hợp mà họ có thể lấy giấy chứng nhận ở các cơ quan khác nhau như: Đại sứ quán. hậu quả của bất khả kháng và ảnh hưởng của nó đối với việc thực hiện hợp đồng. mà nó xảy ra sau đó cho nên nhà xuất khẩu không thể lường trước được.bất khả kháng do cơ quan có thẩm quyền của nước xảy ra bất khả kháng cấp. người xuất khẩu (gọi là người thứ 2) ký hợp đồng bán lô hàng cho người nhập khẩu nước ngoài (gọi là người thứ 1). (Cụ thể là khi nhà xuất khẩu ký kết hợp đồng với người nhập khẩu. Phòng thương mại.

Lý do thứ ba. lúc ký hợp đồng với người thứ 1. người thứ 2 không có lỗi gì là vì người thứ 2 vi phạm hợp đồng là do người thứ 3 gặp bất khả kháng nên vi phạm trước. Sở dĩ. 46 . người thứ 2 trong trường hợp này không có lỗi gì trong việc vi phạm hợp đồng mà theo luật quy định thì bên vi phạm hợp đồng chỉ chịu trách nhiệm khi mình có lỗi. vừa là sự mất công bằng vì người thứ 3 gặp bất khả kháng đã được miễn trách với người thứ 2. Lý do thứ hai. còn người thứ 2 lại phải bỏ tiền túi ra để nộp phạt hoặc bồi thường thiệt hại cho người thứ 1. người thứ 2 không dự kiến được là bất khả kháng sẽ xảy ra với người thứ 3. người thứ 2 không lường trước được hiện tượng khách quan đó. nếu bắt người thứ 2 chịu trách nhiệm thì vừa trái với nguyên tắc suy đoán lỗi. bất khả kháng xảy ra đối với người thứ 3 cũng được coi là bất khả kháng xảy ra đối với người thứ 2 vì vào lúc ký kết hợp đồng. Do vậy.Lý do thứ nhất.

47 . luật thương mại là thực tiễn pháp lý khá mới mẻ ở nước ta cho nên để triển khai áp dụng luật thương mại có hiệu quả trong thực tế vẫn còn tồn tại những vấn đề cần giải quyết. Do đó. khẩn trương trong đó cần chú trọng việc nghiên cứu. để đưa luật thương mại vào cuộc sống nói chung và trong lĩnh vực ngoại thương nói riêng một vấn đề quan trọng là việc tuyên truyền. chúng em rất mong sự đóng góp ý kiến của Thầy giáo và các bạn. Hy vọng rằng trong tương lai. khắc phục tình trạng chồng chéo hay bỏ trống. với pháp lệnh hợp đồng kinh tế cũng như các văn bản pháp luật khác có liên quan nhằm làm cho pháp luật điều chỉnh thương mại noi chung và hoạt động ngoại thương nói riêng được vận dụng một cách thống nhất. tăng trưởng kinh tế xã hội. vì vậy. Mặc dù được soạn thảo công phu trong một thời gian khá dài nhưng trong thời gian áp dụng vào thực tế. mở rộng giao lưu hàng hóa. Tuy nhiên. Do tài liệu để thu thập còn chưa đầy đủ và trình độ hiểu biết còn hạn chế nên tiểu luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Luật thương mại đối với nước ta là một vấn đề mới. Luật thương mại Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển. Luật thương mại cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn và thông lệ Quốc tế khẳng định vai trò là một đạo luật quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Cuối cùng. giải thích.Kết luận Luật thương mại Việt Nam 1997 có hiệu lực từ ngày 01/01/1998 là một bước tiến quan trọng đã góp phần hoàn thiện khung pháp luật thương mại. xử lý mối quan hệ giữa luật thương mại với bộ luật dân sự. đặc biệt là việc thông thương hàng hóa với thế giới bên ngoài ngày càng sôi động. bình luận khoa học về luật thương mại. nghiên cứu. những qui định của luật thương mại về hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa đã thể hiện những bất cập nhất định. phổ biến. chúng em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Bùi Ngọc Sơn đã giúp đỡ tận tình trong việc hướng dẫn chúng em hoàn thành tiểu luận này. nhộn nhịp hơn. Công tác này cần được tiến hành một cách rộng rãi.

48 .

Giáo trình Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương. 2000. Tìm hiểu Luật thương mại Việt Nam. NXB Thống Kê. Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành. 1993. 4. 8. 5. NXB Công an Nhân dân. 1998. 7. 6. 1997. NXB Chính trị Quốc gia. 1997. Lê Xuân Thọ.Tài liệu tham khảo 1. 3. Trường Đại học Luật Hà nội. Trần Anh Minh. Dân chủ và Pháp luật. NXB Giáo dục. 1998. Giáo trình Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại.Nguyễn Thị Mơ. NXB Chính trị Quốc gia. Giáo trình Tư pháp Quốc tế. Các tạp chí Thương mại. 11. NXB Giáo dục. NXB Văn hóa dân tộc & Bộ tư pháp. 9. 49 . Luật mua bán hàng Quốc tế. Tìm hiểu Luật Kinh tế. Báo cáo chuyên đề về các lĩnh vực của khung pháp luật kinh tế tại Việt Nam. Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán quốc tế. 1999. 1997. Incoterm 1990.Vũ Hữu Tửu. Phạm Duy Nghĩa. 2. 1996. Nhà nước và Pháp luật các năm 1995. 10. Hoàng Ngọc Thiết.

.......................... Phải có lỗi của bên vi phạm hợp đồng..................... 5 III.............................. ................................................ 3 II.................. Hoàn cảnh ra đời của Luật thương mại Việt Nam.... Trái chủ bị thiệt hại vật chất. 14 3....................... 4 1......... Bồi thường thiệt hại.......... Phạt vi phạm .................. Khái quát chung về luật Thương Mại Việt Nam................................. 5 3..................................................................................................................... 16 50 ................ 12 2............... 4 2..... Thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân trên lĩnh vực thương mại.................................... 9 3...................... 6 Phần II: I..................................... Mục đích ra đời của Luật thương mại Việt Nam ..... 8 2........... 2 2........... 11 II... .......................... ................ Các chế tài áp dụng cho việc vi phạm hợp đồng trong hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật thương mại Việt Nam................ Thụ trái có hành vi vi phạm pháp luật ................. Có mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại vật chất................................................................................. Thực hiện quyền bình đẳng trước pháp luật của thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong các hoạt động thương mại........ Phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại Việt Nam với tư cách là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài.................................................................................... Chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng ..................................... 10 4............................. ..................................Mục lục Lời nói đầu 1 Phần I: I.................... thiệt hại về tài sản hoặc các quyền có giá trị tài sản. 8 1.............. 2 1......... Qui định những điều kiện đối với thương nhân trong các hoạt động thương mại ....... 2 Hoàn cảnh và mục đích ra đời ........ ....... 12 1................................ Vai trò của Luật thương mại Việt Nam ......... Bảo đảm quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại................................................... ............. ............ 8 Các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán ngoại thương................................................ 5 4............................................... Buộc thực hiện đúng hợp đồng......

............. Về chế tài phạt vi phạm.......................... 26 1...... ...................... ..........4...... 49 51 ........... 43 1.......................................................................................................................... Về chế tài hủy hợp đồng..................................... 44 3........................... Miễn trách khi gặp các trường hợp đã được thỏa thuận trong hợp đồng................................................... .... Kiến nghị và giải pháp.................. .......... Miễn trách khi gặp bất khả kháng.................................... 43 2........ ......... Chế tài hủy hợp đồng...................................................................... ...... Giấy chứng nhận bất khả kháng như thế nào được coi là hợp lý..... 32 2............ ............................... Cần quy định thêm trường hợp miễn trách khi người thứ ba có quan hệ hợp đồng với bên vi phạm gặp bất khả kháng.... 45 Kết luận 47 Tài liệu tham khảo ................................................................................. ...................... . 27 2........ Về mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các chế tài khác..... Những hạn chế của các quy định về chế tài thương mại theo Luật thương mại Việt Nam..... Kiến nghị và giải pháp ................ Về chế tài bồi thường thiệt hại.... 37 3. Cần quy định một số trường hợp phổ biến như đình công..................... Những hạn chế của các quy định về các trường hợp miễn trách do vi phạm hợp đồng mua bán ngoại thương theo Luật thương mại Việt Nam ................ 39 4........ . Mối quan hệ giữa các chế tài theo Luật thương mại Việt Nam....... 20 5........... 31 I.............................................................. lệnh cẫm xuất nhập khẩu của Nhà nước là những trường hợp bất khả kháng để làm căn cứ miễn trách nhiệm.................. Các trường hợp miễn trách do vi phạm hợp đồng trong hoạt động mua bán hàng hóa của thụ trái..........................Kiến nghị và giải pháp........................ 27 Phần III: Hạn chế của các quy định về chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán theo Luật thương mại Việt Nam........ 24 III............................................... 40 II.............................................................. 31 1.....................................................

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful