CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGÀY NAY VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA NÓ Môn những nguyên lý cơ bản của CN Mác

-Lênin 2 Các lớp K14 TPM1,2;DLK1,2;VHO,VQH;NAD;DLL I .NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CNTB HIỆN ĐẠI NGÀY NAY 1. Những biểu hiện mới về kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền a. Tập trung sản xuất và hình thức độc quyền mới: Sự xuất hiện các công ty độc quyền xuyên quốc gia bên cạnh sự phát triển của các xí nghiệp vừa và nhỏ. Do sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự hình thành hai xu hướng: - Hình thành những liên kết giữa các độc quyền theo cả chiều dọc và chiều ngang ở trong và ngoài nước. Từ đó, hình thành nên các tổ chức độc quyền mới là Con son và Cong-gô-lơ-mê-rát. + Con son: là tổ chức độc quyền đa ngành, thành phần của nó có hàng trăm xí nghiệp có quan hệ với những ngành khác và phân bố ở nhiều nước. Điều này làm giảm thiểu rủi ro do cạnh tranh khốc liệt. + Cônggôlơmêrat: Là sự liên kết vài ba chục hãng vừa và nhỏ không có liên quan nào về sản xuất hoặc dịch vụ cho sản xuất nhằm mục đích chiếm đoạt lợi nhuận bằng kinh doanh chứng khoán, nên dẽ bị phá sản chuyển thành Con sơn. Nguyên nhân: + Do cạnh tranh gay gắt và biến động động nhanh chóng của thị trường dẫn đến kinh doanh chuyên môn hoá hẹp dẽ bị phá sản. + Để chống đỡ lại luật chống độc quyền( luật này quy định cấm độc quyền 100% mặt hàng trong một ngành ). - Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. + Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiêu chuẩn hoá và chuyên môn hoá cao, phù hợp với những ngành mới xuất hiện như tin học, điện tử…

linh hoạt ứng phó với tình hình biến động của thị trường.dịch vụ hoặc công nghiệp. ngành vũ trụ và đại dương…Trong thời gian đầu những ngành này thu được nhiều lợi nhuận. b. .Từ những năm 70 của TK XX trở về trước các nước phát triển chủ yếu xuất khẩu tư bản sang các nước đang phát triển. Thứ nhất: Các nước tư bản phát triển xuất khẩu tư bản lẫn nhau . mạo hiểm dẽ khấu hao nhanh. bảo hiểm.+ Thích ứng nhanh với thị trường dẽ nhạy cảm trước những thay đổi trong sản xuất. . c. TB tài chính là tổ hợp đa dạng kiểu Công -nông.Từ những năm 70 của thế kỷ 20 đến nay các nước tư bản xuất khẩu tư bản lẫn nhau. đổi mới thiết bị nhanh. Những biểu hiện mới về xuất khẩu tư bản.Khi lực lượng sản xuất phát triển các ngành mới xuất hiện như điện tử. mạnh dạn đầu tư vào ngành mới. Từ đó thay đổi hình thức tồn tại của tư bản tài chính. chất dẻo.thương. Nguyên nhân: + Ở những nước tư bản phát triển cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra những ngành bán dẫn và vi điện tử. dịch vụ…ngày càng chiếm tỷ trọng lớn. .tín. + Tư bản tài chính chủ yếu phát hành cổ phiếu với mệnh giá nhỏ để thu hút nhiều tầng lớp dân cư mua cổ phiếu.quân sự-dịch vụ quốc phòng… + Tư bản tài chính mở rộng thị trường chứng khoán trong và ngoài nước. Sự thay đổi các hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chính. Do đó các hình thức và cơ chế thống trị của tư bản tìa chính cũng thay đổi: + Sự xâm nhập vào nhau giữa tư bản ngân hàng và công nghiệp được mở rộng ra nhiều ngành. Theo đó là cơ chế thống trị thay đổi từ “chế độ tham dự” bổ sung thêm bằng “chế độ uỷ nhiệm” những đại cổ đông được uỷ nhiệm thay mặt cho đa số cổ đông có ít cổ phiếu quyết định phương hướng hoạt động của công ty cổ phần.

chuyển giao (BTO)… Chủ nghĩa tư bản từ thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ IX ( giai đoạn tự do cạnh tranh). . các công ty xuyên quốc gia chiếm 90% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài). Sự biến động về địa bàn và tỷ trọng đầu tư của các nước tư bản phát triển không làm đặc điểm và bản chất của xuất khẩu tư bản thay đổi. xuất khẩu chủ yếu là dưới hình thức xuất hàng hoá. xuất khẩu chủ yếu là dươí hình thức xuất khẩu tư bản.+ Cơ cấu kinh tế ở các nước phát triển thay đổi phù hợp cho sự tiếp nhận các ngành khoa học công nghệ cao. Công ty xuyên quốc gia TNCs 1990 chiếm 90% luồng vốn FDI. Trong đầu tư trực tiếp xuất hiện những hình thức mới như: xây dựng. + Có các điều kiện để tiếp nhận khoa học.công nghệ cao của các nước đầu tư như: trình độ tay nghề công nhân cao. Hình thức: Doanh nghiệp tư nhân: xuất khẩu hàng hoá Các tổ chức độc quyền tư nhân: xuất khẩu tư bản Các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia: xuất khẩu tư bản kết hợp xuất khẩu hàng hoá Thứ tư: Sự áp đặt mang tính thực dân trong xuất khẩu tư bản đã được gỡ bỏ dần và nguyên tắc cùng cơ lợi được đề cao. cơ sở hạ tầng kinh tế phát triển.kinh doanh. Từ đầu thế kỷ XX đến những năm 50 của thế kỷ XX. đặc biệt là trong đầu tư trực tiếp ( năm 1990. từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay chủ yếu xuất khẩu tư bản và hàng hoá. Thứ hai: Chủ thể xuất khẩu có sự thay đổi lớn: chủ thể xuất khẩu chủ yếu trong chủ nghĩa tư bản ngày nay là các công ty xuyên quốc gia.công nghệ cao. trình độ khoa học. lượng vốn lớn. mà chỉ làm cho hình thức và xu hướng của xuất khẩu tư bản thêm phong phú và phức tạp hơn. xuất hiện nhiều chủ thể xuất khẩu tư bản từ các nước đang phát triển như NIEs châu Á Thứ ba: Hình thức xuất khẩu chủ yếu là kết hợp xuất khẩu hàng hoá với xuất khẩu tư bản.

chiến tranh lạnh kết thúc. chi phối các nước kém phát triển từ sự lệ thuộc về vốn. những cuộc chiến tranh sắc tộc. . nhưng lại được thay thế bằng những cuộc chiến tranh thương mại. toàn cầu hoá kinh tế và phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa chúng với nhau. Achentina. Vậy. chống lại sức ép củaTBCN e.Uragoay. Đồng thời thúc đẩy việc hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền quốc tế. Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh của CNTB đã có sự thay đổi. LLSX phát triển Vai trò của các công ty xuyên quốc gia tăng Xu hướng toàn cầu hoá khu vực tăng CNTB độc quyền quốc tế Cùng xu hướng toàn cầu hoá kinh tế diẽn ra xu hướng khu vực hoá kinh tế liên minh châu Âu (EU)..Xuất hiện các tư bản độc quyền quốc tế thì các tổ cức độc quyền quốc tế phân chia thế giới về mặt kinh tế. khối mậu dịch tự do Bắc Mỹ ( NAFTA Canada. tôn giáo mà đứng sau nó là các cướng quốc đế quốc NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA VỀ VAI TRÒ ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI. công nghệ đi đến lệ thuộc về chính trị.d. Sự phân chia thế giới giữa các cường quốc vẫn tiếp tục dưới những hình thức cạnh tranh và thống trị như chiến lược biên giới mềm”. “biên giới kinh tế” nhằm ràng buộc. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của LLSX sức mạnh và phạm vi bành trướng của các công ty xuyên quốc gia tăng lên. Như thành lập tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC. khối mậu dịch tự do đông Nam Á (AFTA). nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi. Mêhicô và Mỹ) . Tuy nhiên sự phân chia này có sự tham gia của các nước đang phát triển. thúc đẩy xu hướng quốc tế hơn. Paragoay. thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUS) gồm Brazin.

quản lý và điều hoà phúc lợi. khi khẳng định sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước thì cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng tời cái được . Tuy nhiên. Cách giải quyết không phải là bỏ mặc thị trường. các nền kinh tế thị trường thành công nhất đều không thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước. ngoại trừ trong các lý thuyết kinh tế. Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường đóng một vai trò rất lớn trong việc tạo ra các điều kiện kinh tế để thị trường tư nhân có thể phát huy hết hiệu quả hoạt động của mình. vì nền kinh tế tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một phức tạp nên sự can thiệp của Nhà nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường. Theo đó. Một trong các vai trò đó là tạo ra một thị trường tiền tệ ổn định.cái mất của sự can thiệp ấy.I) Vai trò của Nhà nước trong điều tiết vĩ mô Lịch sử đã chứng minh rằng. Tuy nhiên. . có khả năng loại bỏ hệ thống giao dịch cồng kềnh. thị trường tự do với đúng nghĩa của nó không thể tồn tại. Nhà nước có một vai trò chính đáng và thường xuyên trong các nền kinh tế hiện đại. Trong các nền kinh tế thị trường đã Phát triển. để đảm bảo tính chỉnh thể của nền kinh tế và để cung cấp những dịch vụ phúc lợi. Nhà nước có 3 chức năng kinh tế rõ rệt là: can thiệp. thể hiện nhưng khuyết tật của thị trường. Các nền kinh tế thị trường nguyên thuỷ dựa trên cơ sở sản xuất và trao đổi giản đơn có thể hoạt động một cách có hiệu quả mà không cần sự can thiệp của Nhà nước. Vai trò đó của Nhà nước đặc biệt thể hiện rõ rệt ở việc xác định "các quy tắc trò chơi" để can thiệp vào những khu vực cần có sự lựa chọn. song sự điều tiết của Nhà nước vẫn là một trong các hoạt động của nền kinh tế thị trường. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định. được chấp nhận rộng rãi. kém hiệu quả và đồng thời có khả năng duy trì giá trị tiền tệ thông qua các chính sách hạn chế lạm phát. mà phải là nâng cao hiệu quả của sự can thiệp đó.

chép về không được. đặc biệt cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới những năm 30 của thế kỷ XX. Trong những thời kỳ kinh tế suy giảm. Còn trong những thời kỳ kinh tế "quá nóng". Llịch sử vẫn chưa quên thời kỳ trầm trọng của siêu lạm phát ở Đức những năm 20. các nền kinh tế thị trường luôn rơi vào tình trạng bị đe doạ bởi khi thì đồng tiền tăng giá đột ngột. khi cả thế giới lâm vào tình trạng thất nghiệp. Chính sách tài chính bao gồm các chính sách thuế và chi tiêu ngân sách của Nhà nước nhằm điều tiết chu kỳ kinh tế. chính phủ làm ngược lại. Chính sách tài chính được điều hành một cách độc lập với chính sách tiền tệ là chính sách nhằm điều tiết hoạt động kinh tế bằng cách kiểm soát việc cung ứng tiền II) Thực trạng và giải pháp http://www. giảm thuế. ổn định giá cả và tăng trưởng liên tục của nền kinh tế. như thuế thu nhập luỹ tiến và phụ cấp thất nghiệp...com/luan-van/Vai-tro-dieu-tiet-vi-mo-nen-kinh-te-thi-truong-cuangan-sach-nha-nuoc-98388 (coi giùm nhe.Trong lịch sử.thấy nó cũng hay hay) …. . vừa có tình trạng lạm phát.atheenah. khi thì nạn thất nghiệp tăng cao. chính sách tài chính có tác dụng kích cầu và sản xuất bằng cách Chính phủ tăng mua. đảm bảo công ăn việc làm. Nhà nước tạo ra nhưng cái gọi là cơ chế ổn định. do đó tạo ra được một thu nhập quốc dân khả dụng lớn hơn để đưa vào luồng tiêu đùng. khi thì vừa có tình trạng thất nghiệp.. Để cân bằng lại những biện pháp tài chính cố ý này.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful