LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

MỤC LỤC : PHẦN GIỚI THIỆU__________________________________________2
1. Tổng quan về tỷ giá hối đoái___________________________________ 2

1.1. Khái niệm về tỷ giá hối đoái_________________________________ 2 1.2. Phân loại tỷ giá___________________________________________ 2 1.3. Các chế độ tỷ giá tiêu biểu__________________________________ 4 2. Các yếu tố tác động đến tỷ giá___________________________________ 6 2.1. Yếu tố trực tiếp: Cung – Cầu ngoại tệ__________________________6 2.2. Các yếu tố làm dịch chuyển cung cầu ngoại tệ___________________ 7 2.2.1. Chênh lệch lạm phát giữa hai nước_______________________ 7 2.2.2. Chênh lệch lãi suất giữa hai nước________________________ 8 2.2.3. Mức tăng trưởng thu nhập tương đối_____________________ 8 2.2.4. Sự can thiệp của chính phủ_____________________________ 9 2.2.5. Các yếu tố khác_____________________________________ 10 3. Diến biến tình hình tỷ giá từ năm 2008 đến tháng 10/2010 và những nguyên nhân của những sự biến động đó________________________________ 10 3.1. Diễn biến tỷ giá năm 2008__________________________________10 3.2. Diễn biến tỷ giá năm 2009__________________________________14 3.3. Diễn biến tỷ giá năm 2010_________________________________ 18 4. Xu hướng lựa chọn chính sách tỷ giá của Việt Nam trong thời gian tới__ 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO________________________________________ 23

1

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

LỜI GIỚI THIỆU Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế với nhiều cơ hội cũng như những thách thức lớn phải đương đầu. Trong những năm gần đây tình hình tỷ giá nước ta đang trở nên cực kỳ nóng bỏng với những diễn biến bất ngờ của những đợt điều chỉnh tỷ giá lớn. Như chúng ta đã biết, tỷ giá hối đoái có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, nó không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động ngoại thương mà còn tác động trực tiếp đến các yếu tố kinh tế khác. Ngoài ra tỷ giá hối đoái cũng phải chịu nhiều tác động từ nhiều yếu tố trong nước cũng như trên thế giới. Với tầm quan trọng của nó cùng với sự hiếu kỳ về những diễn biến phức tạp của tình hình tỷ giá trong những năm gần đây, đặc biệt là sự manh nha về một cuộc “ chiến tranh tiền tệ” sắp nổ ra giữa các nước trên thế giới gần đây đã thôi thúc nhóm chúng tôi nghiên cứu về đề tài: “ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG DIỄN BIẾN CỦA NÓ TỪ NĂM 2008 ĐẾN THÁNG 10/2010”. 1. Tổng quan về tỷ giá hối đoái 1.1. Khái niệm về tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là sự so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau. Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác. VD: Tỷ giá bán ra của ngân hàng ngoại thương Việt Nam ngày 09/10/2010:1USD=19.58157VND. Như vậy, bản chất của tỷ giá hối đoái là loại giá cả nhưng là giá cả của một loại hàng hóa đặc biệt đó là tiền tệ. 1.2. Phân loại tỷ giá Tỷ giá hối đoái có nhiều loại dựa trên các căn cứ:  C n c v o nghiệp v inh doanh ngoại hối : - Tỷ giá mua vào – Bid Rate: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng s n sàng mua vào đồng tiền yết giá. - Tỷ giá bán ra: - Ask (Offer) Rate: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá s n sàng bán ra đồng tiền yết giá. - Tỷ giá giao ngay – Spot Rate: Là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay, nhưng việc thanh toán xảy ra trong hai ngày làm việc tiếp theo (nếu không có thỏa thuận khác thì thường là ngày làm việc thứ 2). - Tỷ giá kỳ hạn – Forward Rate: Là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay, nhưng việc thanh toán xảy ra từ 3 ngày làm việc trở lên. - Tỷ giá mở c a – Opening Rate: Là tỷ giá áp d ng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày. - Tỷ giá đóng c a – Closing Rate: Là tỷ giá áp d ng cho hợp đồng cuối cùng được giao dịch trong ngày. Thông thường Ngân hàng chỉ công bố tỷ giá đóng c a. Tỷ giá đóng c a là một chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động tỷ giá
2

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

trong ngày. Tỷ giá hôm nay thường là cơ sở quan trọng giúp NHNN xác định tỷ giá phiên giao dịch đầu tiên ngày hôm sau. - Tỷ giá ch o – Crosed Rate: Là tỷ giá giữa 2 đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ 3 (là đồng tiền trung gian). - Tỷ giá chuyển khoản – Transfer Rate: Tỷ giá chuyển khoản áp d ng cho các giao dịch mua bản ngoại tệ là các khoản tiền g i ngân hàng. - Tỷ giá tiền mặt – Bank Note Rate: Tỷ giá tiền mặt áp d ng cho ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, s c và th tín d ng. Thông thường, tỷ giá tiền mặt mua thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn so với tỷ giá chuyển khoản. - Tỷ giá điện hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện. Ngày nay, do ngoại hối được chuyển chủ yếu bằng điện nên tỷ giá niêm yết tại ngân hàng là tỷ giá điện hối. - Tỷ giá thư hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư.  C n c v o c ch điều h nh tỷ giá:  Tỷ giá chính thức – Official Rate (Ở Việt Nam là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng): Là tỷ giá do NHTW công bố. Tỷ giá chính thức được áp d ng để tính thuế xuất nhập kh u và hoạt động khác liên quan tỷ giá chính thức. Ngoài ra, tỷ giá chính thức còn là cơ sở NHTW xác định tỷ giá kinh doanh biến độ cho ph p. - Tỷ giá chợ đen – Black Market Rate: Là tỷ giá hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định. - Tỷ giá cố định – Fixed Rate: Là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ dao động h p. Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định, NHTW phải thường xuyên can thiệp, vì vậy dự trữ ngoại hối quốc gia luôn thay đổi. - Tỷ giá thả nổi hoàn toàn – Freely Floating Rate: Là tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp vào loại tỷ giá này. - Tỷ giá thả nổi có điều tiết – Managed Floating Rate: Là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động có lợi cho nền kinh tế.  C nc v om cđ nh h ng l n cán cân th ng mại: - Tỷ giá danh ngh a song phương: Là tỷ giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa giữa chúng. Vì vậy khi tỷ giá danh ngh a thay đổi không nhất thiết phải tác động đến hoạt động xuất nhập kh u hàng hóa. - Tỷ giá thực song phương (Bilateral real exchange Rate): Là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh ngh a đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và ở nước ngoài, do đó nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ.

3

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

- Tỷ giá danh ngh a trung bình (Nominal effective exchange Rate – NEER): NEER phản ánh sự thay đổi giá trị của một đồng tiền đối với tất cả các đồng tiền còn lại hay một số các đồng tiền. - Tỷ giá thực trung bình (Real effective exchange rate – REER): REER cho biết tương quan sức mua giữa nội tệ với các đồng tiền còn lại. REER được xác định trên cơ sở tỷ giá danh ngh a đa biên đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và tất cả các nước còn lại. Vì vậy nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và tất cả các đồng tiền còn lại. 1.3. Các ch đ tỷ giá ti u biểu Chế độ tỷ giá hối đoái là cách thức một đất nước quản lý đồng tiền của mình liên quan đến các đồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường ngoại hối. Chế độ tỷ giá hối đoái ở mỗi nước và mỗi thời kỳ có thể khác nhau, song về cơ bản là chế độ tỷ giá "thả nổi" theo đó thị trường quy định những biến động của tỷ giá hối đoái, hoặc ngược lại hoàn toàn là chế độ tỷ giá hối đoái "cố định" theo đó nhà nước sẽ can thiệp để tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của nước mình với đồng tiền (các) nước khác không đổi, hoặc là một chế độ nằm giữa hai giải pháp gốc đó.  Ch đ tỷ giá hối đoái cố định, đôi khi còn được gọi là tỷ giá hối đoái neo, là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền s d ng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định. Tỷ giá hối đoái cố định là một lựa chọn chế độ tỷ giá ngược hoàn toàn với tỷ giá hối đoái thả nổi.  Ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định: Tạo được sự ổn định cho nền kinh tế như việc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư tránh được những rủi ro về tỷ giá, biết được khoảng lợi nhuận và chi phí phải trả trong tương lai; ổn định giá cả hàng hóa,… Chế độ tỷ giá này tạo điều kiện cho các nước có thị trường ngoại hối chưa thật sự phát triển đảm bảo những rủi ro do biến động tỷ giá khi các công c giao dịch ngoại hối phái sinh còn hạn chế.  Nhược điểm: Nhằm đảm bảo cho tỷ giá cố định thì buộc Ngân hàng Trung Ương các nước phải có những biện pháp can thiệp, chính điều này đã tạo nên những hạn chế cho nền kinh tế, c thể: Việc s d ng một khoảng dự trữ ngoại tệ nhằm can thiệp vào thị trường khi cần thiết đã gây một sự lãng phí lớn cho tài nguyên vốn, nếu khoản dự trữ này được đem đầu tư sẽ mang lại những lợi ích đáng kể cho nền kinh tế.

4

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

Khi NHTW buộc phải điều chỉnh tăng hoặc giảm tỷ giá bằng biện pháp phá giá thì sẽ gây ảnh hưởng tâm lý của người dân và nhà đầu tư về sự ổn định của nền kinh tế và khả năng quản lý nền kinh tế của chính phủ. Việc cố định tỷ giá còn gây ra lãng phí trong chi phí quản lý khi phải điều tiết lạm phát, lãi suất,… ( như việc lập quỹ bình ổn hàng hóa, chi phí quản lý tránh nạn đầu cơ tăng giá…); cố định tỷ giá có thể dẫn đến việc nhập kh u cả lạm phát từ quốc gia đoái tác gây khó khăn trong việc điều hành chính sách trong nước; đặc biệt là sự hạn chế lưu chuyển dòng vốn đi vào và đi ra của quốc gia từ đó hạn chế sự phát triển( như việc quy định về thuế thu nhập của nhà đầu tư trong nước ra nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài, các quy định rút vốn…); việc cố định tỷ giá còn dễ dẫn đến sự bất hòa giữa các quốc gia mà tiêu biểu hiện nay là tình hình căng thẳng giữa Trung Quốc và Mỹ. Việc theo đuổi một chế độ tỷ giá cố định sẽ tạo ra những nguy cơ tiềm n, tạo điều kiện cho giới đầu cơ tấn công khi biết rằng NHTW của nước đó sẽ cố gắng bảo vệ đồng tiền của mình chứ không chịu để nó mất giá, tiêu biểu là hiện tượng đầu cơ của Soros đối với đồng bảng Anh, và sự kiện Thái Lan trong khủng hoảng tài chính châu Á là một ví d .  Ch đ tỷ giá hối đoái th nổi Ch đ tỷ giá th nổi hay còn gọi là ch đ tỷ giá linh hoạt là một chế độ trong đó giá trị của một đồng tiền được ph p dao động trên thị trường ngoại hối. Đồng tiền s d ng chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là một đồng tiền th nổi. Theo chế độ tỷ giá này thì cung cầu về ngoại tệ sẽ tuân theo quy luật cung cầu trên thị trường vì thế mà nó phản ánh được giá trị thực của đồng nội tệ và tránh được những phản ứng ph hay hạn chế của chế độ tỷ giá cố định lên nền kinh tế. Bên cạnh những ưu điểm đó thì chế độ tỷ giá thả nổi lại không đảm bảo được cho những rủi ro về biến động tỷ giá. Tuy nhiên ở các nước phát triển thị các công c giao dịch ngoại hối phái sinh đã phát triển rất mạnh vì vậy mà hạn chế này cũng coi như một phần đã được khắc ph c.  Ch đ tỷ giá th nổi có qu n lý là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa hai chế độ thả nổi và cố định. Theo đó thì chính phủ sẽ không cam kết duy trì ở một tỷ giá trung tâm cũng nhưng một biên độ tỷ giá nào mà chính phủ chỉ can thiệp khi tỷ giá biến động mạnh vượt mức cho ph p. Ưu điểm của chế độ tỷ giá này là việc vẫn đảm bảo cung cầu ngoại tệ tuân theo quy luật cung cầu mà theo đó còn có sự can thiệp của chính phủ khi cần thiết, vì thực tế thì việc thả nổi hoàn toàn là quá bất ổn định.

5

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

2. Các y u tố tác đ ng đ n tỷ giá 2.1. Y u tố trực ti p: Cung – Cầu ngoại tệ Tỷ giá phản ánh sự cân bằng trên thị trường tiền tệ. Khi cung cầu thị trường thay đổi  các đường cung cầu dịch chuyển tỷ giá thay đổi.

 Bất cứ yếu tố nào làm tăng cầu ngoại tệ đường cầu dịch chuyển sang phải tỷ giá tăng lên.

 Các yếu tố làm giảm cầu ngoại tệ  đường cầu dịch chuyển sang trái tỷ giá giảm.

 Các yếu tố làm tăng cung ngoại tệ đường cung dịch chuyển sang phải  tỷ giá giảm.

6

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

 Các yếu tố làm giảm cung ngoại tệ đường cung ngoại tệ dịch chuyển sang trái tỷ giá tăng.

2.2. Các y u tố l m dịch chuyển cung cầu ngoại tệ 2.2.1. Ch nh lệch lạm phát giữa hai n ớc Mức chênh lệch lạm phát của hai nước cũng ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá. Giả s trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suất lao động của hai nước tương đương như nhau, cơ chế quản lý ngoại hối tự do, khi đó tỷ giá biến động ph thuộc vào mức chênh lệch lạm phát của hai đồng tiền. Nước nào có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiền của nước đó bị mất giá so với đồng tiền nước còn lại. + Điển hình là khi lạm phát trong nước cao hơn nước ngoài thì làm cho giá cả hàng hóa trong nước đắt hơn hàng hóa nước ngoài. Nên người dân trong nước có nhu cầu hàng ngoại hơn và người dân ở nước ngoài hạn chế dùng hàng trong nước. Từ đó làm cho xuất kh u giảm và nhập kh u tăng hay cung ngoại tệ giảm và cầu ngoại tệ tăng => tỷ giá tăng. + Khi lạm phát cao làm cho lãi suất tương đối của ngoại tệ cao hơn nội tệ , các nhà đầu tư sẽ bán các tài sản tài chính định giá bằng đồng nội tệ để mua tài sản tài chính định giá bằng ngoại tệ, hành động này làm cho cầu ngoại tệ tăng và dẫn đến tỷ giá tăng. + Khi có lạm phát cao thì người dân mất lòng tin vào đồng nội tệ, từ đó họ sẽ chuyển sang găm giữ ngoại tệ làm cho cầu ngoại tệ tăng , dẫn đến tỷ giá tăng. Chênh lệch lạm phát dựa vào thuyết ngang giá sức mua của đồng tiền PPP. Theo thuyết này, mức giá của một nước tăng lên tương đối so với mức tăng giá của nước khác trong dài hạn sẽ làm cho đồng tiền của nước đó giảm

7

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

giá và ngược lại. Như vậy, yếu tố chênh lệch lạm phát chỉ có ảnh hưởng đến biến động của tỷ giá trong dài hạn. Việc nghiên cứu yếu tố này để làm cơ sở dự đoán biến động của tỷ giá trong ngắn hạn sẽ đem lại kết quả không đáng tin cậy.

2.2.2. Ch nh lệch lãi suất giữa hai n ớc Lãi suất là một trong những công c được các chính phủ s d ng trong quản lý v mô nền kinh tế nhất là trong cơ chế thị trường, nó kích thích tập trung nguồn lực tài chính và phân bổ nguồn lực đó một cách có hiệu quả, thúc đ y nền kinh tế phát triển, ổn định m c tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.Đặc biệt,Lãi suất còn là công c được s d ng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường, điều chỉnh giá trị đối ngoại của nôi tệ. Chính sách lãi suất cao có xu hướng hỗ trợ sự lên giá của nội tệ, bởi vì nó hấp dẫn các luồng vốn nước ngoài chảy vào trong nước, nếu lãi suất trong nước cao hơn so với lãi suất nước ngoài hay lãi suất ngoại tệ sẽ dẫn đến những dòng vốn chảy vào hay sẽ làm chuyển lượng hóa ngoại tệ trong nền kinh tế sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao hơn. Điều này làm cho tăng cung ngoại tệ trên thị trường (cũng có ngh a làm tăng cầu đối với đồng nội tệ), từ đó đồng ngoại tệ sẽ có xu hướng giảm giá trên thị trường, hay đồng nội tệ sẽ tăng giá. Trong trường hợp ngược lại, nếu lãi suất trong nước thấp hơn so với lãi suất nươc ngoài hay lãi suất ngoại tệ, đồng ngoại tệ có xu hướng tăng giá trên thị trường hay đồng nội tệ sẽ giảm giá. 2.2.3. M c t ng tr ng thu nhập t ng đối: Khi thu nhập của một nước tăng đáng kể đối với đối tác thương mại của nó thì nhu cầu về hàng nhập kh u của nước có thu nhập tăng cao hơn sẽ tăng

8

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

lên, từ đó làm tăng cầu ngoại tệ của nước đó, tạo áp lực tăng tỷ giá và ngược lại. 2.2.4. Sự can thiệp của chính phủ Chính phủ của bất kỳ một nước nào cũng có thể thực hiện các chính sách tài khóa, tiền tệ và các biện pháp hành chính riêng của mình để can thiệp, kiểm soát nền kinh tế. Thị trường ngoại hối là một trong những thị trường quan trọng đối với nền kinh tế của một nước, để quản lý thì mỗi quốc gia thường có một cơ quan chính phủ can thiệp thị trường vào thị trường này nhằm khống chế giá trị của một đồng tiền, thông thường là ngân hàng trung ương (NHTW). Tỷ giá hối đoái là một yếu tố có liên quan chặt chẽ tới ngoại thương cũng như các biến động kinh tế v mô cho nên tất cả các NHTW đều phải can thiệp vào tỷ giá khi cần thiết, thông qua:  Can thiệp trực tiếp: Các NHTW có thể tác động đến tỷ giá bằng cách trực tiếp mua vào ngoại tệ hoặc bán nội tệ ra thị trường. Khi NHTW can thiệp vào thị trường hối đoái mà có sự điều chỉnh sự thay đổi trong mức cung tiền tệ, điều này gọi là can thiệp không vô hiệu hóa. Ngược lại, nếu muốn can thiệp vào thị trường hối đoái, trong khi vẫn duy trì mức cung tiền tệ, NHTW sẽ s d ng can thiệp vô hiệu hoá bằng cách áp d ng các giao dịch trên thị trường ngoại hối đồng thời với các hoạt động trên thị trường mở. Thông thường là hoạt động của NHTW trên thị trường ngoại hối thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định nhưng để can thiệp thì NHTW cần có một lượng dự trữ ngoại hối đủ mạnh, hơn nữa can thiệp của NHTW tạo hiệu ứng thay đổi lượng cung tiền trong lưu thông tạo ra áp lực lạm phát hay giảm phát. Chính vì vậy mà chính phủ phải s d ng thêm nghiệp v thị trường mở để hấp th lượng dư cung hay bổ sung thiếu h t tiền tệ trong lưu thông. Chính những hạn chế đó mà NHTW đã chuyển từ can thiệp trực tiếp đến gián tiếp. Ngoài ra, thuộc nhóm công c trực tiếp còn có biện pháp hành chính như: biện pháp kết hối, quy định đối tượng được mua ngoại tệ, các điều kiện và thời gian rút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài…  Can thiệp gián tiếp: NHTW có thể tác động đến đồng nội tệ một cách gián tiếp bằng cách tác động đến các yếu tố ảnh hưởng đến đồng nội tệ như lãi suất, các biện pháp kiềm chế lạm phát… Một chính phủ cũng có thể tác động đến đến các tỷ giá hối đoái bằng cách áp đặt các hàng rào đối với tài chính và mậu dịch quốc tế như thuế nhập kh u, hạn ngạch nhập kh u, thuế đánh trên bất cứ thu nhập nào do đầu tư ở nước đó của các nhà đầu tư nước ngoài. C thể: Ngân hàng trung ương quy định lãi suất tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc nhằm điều chỉnh lãi suất trên thị trường. Khi các yếu tố khác không đổi, NHTW tăng lãi suất tái chiết khấu sẽ làm tăng lãi suất thị trường, làm tăng nguồn vốn ngoại tệ và kết quả là tạo áp lực tăng giá nội tệ. Chính phủ có thể thông qua việc kiềm chế lạm phát để tác động làm mất giá đồng nội tệ tức tăng tỷ giá để thúc đ y xuất kh u và hạn chế nhập kh u.

9

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

Chính phủ còn có thể tiến hành một số quy định và biện pháp hành chính trong hoạt động lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế và các hoạt động ngoại thương đối với các quốc gia khác như: Thuế quan: thuế nhập kh u cao hạn chế nhập kh u cầu ngoại tệ giảm nội tệ lên giá. Việc đánh thuế vào nguồn thu nhập của các nhà đầu tư nước ngoài cũng có tác d ng tương tự. Bên cạnh đó chính phủ còn có thể hạn chế luồng vốn đầu tư từ trong nước ra nước ngoài bằng việc đánh thuế trên thu nhập của những nhà đầu tư ra nước ngoài từ đó làm giảm cầu ngoại tệ giảm giá ngoại tệ tỷ giá tăng. Hạn ngạch : việc đặt ra một hạn ngạch trong nhập kh u sẽ hạn chế cầu về hàng hóa nước ngoài, giảm cầu ngoại tệ, tạo áp lực tăng giá nội tệ. Giá cả: việc chính phủ trợ giá cho những mặt hàng xuất kh u chiến lược sẽ làm cho xuất kh u tăng  tăng cung ngoại tệ  nội tệ tăng giá. Bù giá thì cơ chế như sau : việc chính phủ bù giá cho những mặt hàng nhập kh u sẽ làm cho nhập kh u tăng  tăng cầu ngoại tệ  ngoại tệ tăng giá tỷ giá tăng. 2.2.5. Các y u tố hác  Kỳ vọng về tỷ giá: Kì vọng của thị trường vào tỷ giá tuơng lai cũng là một trong những nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái. Như các thị trường tài chính khác, thị trường ngoại hối phản ứng lại với các thông tin trong tương lai có liên quan đến tỉ giá. Ví d : khi các nhà đầu cơ kỳ vọng đồng tiền của một nước nào đó sẽ giảm giá thì họ sẽ bán tháo đồng tiền đó dẫn đến kết quả làm cho đồng tiền đó thật sự bị mất giá và ngược lại. Đây chính là yếu tố kỳ vọng tạo ra kỳ vọng của chính nó. Tuy nhiên chính hành động của nhà đầu cơ đã đưa đồng tiền về giá trị thực của chính nó. Một kỳ vọng về sự giảm giá của VND so với USD và những diễn biến bất thường trên thị thường vàng được phản ánh qua diễn biến tỷ giá qua những tháng vừa qua:

10

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

Nhiều nhà đầu tư định chế (như các ngân hàng thương mại và các công ty bảo hiểm) thực hiện vị thế tiền tệ dựa trên biến động lãi suất dự kiến ở các nước khác nhau. Ví d : Các nhà đầu tư định chế có thể đầu tư một cách thường xuyên ngân quỹ vào Việt Nam nếu họ dự kiến lãi suất của Việt Nam tăng, một gia tăng như thế sẽ thu hút vốn vàoViệt Nam nhiều hơn và tạo áp lực tăng giá đồng Việt Nam. Bằng cách thực hiện vị thế mua bán tiền dựa vào kì vọng, họ có thể đạt được lợi ích từ sự thay đổi trong giá trị của đồng Việt Nam vì họ sẽ mua đồng Việt Nam trước khi sự thay đổi xảy ra.  Ứng x của công chúng: sự ưa thích hàng nội hay hàng ngoại. Nếu sự ưa thích hàng ngoại tăng thì nhu cầu về hàng nhập kh u tăng làm cho ngoại tệ tăng giá. Nếu cầu về hàng xuất kh u của một nước tăng lên về lâu dài làm cho đồng tiền của nước đó tăng giá tức tỷ giá giảm. 3. Di n bi n tình hình tỷ giá từ n m 2008 đ n tháng 10/2010 v những nguy n nhân của những sự bi n đ ng đó: 3.1. Diễn biến tỷ giá năm 2008 Tỷ giá VND/USD qua năm 2008 đã có ba lần nới biên độ tỷ giá và cơn sốt USD vào giữa tháng 6/2008. Có thể phân thị trường ngoại tệ ở Việt Nam trong năm 2008 thành 4 giai đoạn sau:

Diễn biến tỷ giá USD/VND năm 2008 - Nguồn: BIDV Giai đoạn đầu (3 tháng đầu năm từ 01/01/2008 – 25/03/2008): Tỷ giá liên t c giảm, dưới mức sàn. Trong giai đoạn 3 tháng đầu năm, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng liên t c s t giảm (từ mức 16.112 đồng xuống 15.960 đồng. mức thấp nhất là 15.560 đồng/USD). Trên thị trường tự do, USD dao động từ mức 15.700 – 16.000 đồng/USD. Nguyên chính của tình trạng trên là do: Khan hiếm VND do các biện pháp kiềm chế lạm phát của chính phủ: Theo công bố của Tổng c c Thống kê, giá tiêu dùng tháng 1/2008 đã tăng 2,38% so với tháng 12/2007 và tăng 14,11% so với tháng 1 cùng kỳ năm ngoái. Với m c tiêu kiềm chế lạm phát, ngày 30/1/2008, NHNN thông báo điều chỉnh
11

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

các lãi suất: lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm tăng lên 8,75%/năm, tăng 0,5%/năm; lãi suất tái cấp vốn từ 6,5%/năm tăng lên 7,5%/năm, tăng 1,0%/năm; lãi suất chiết khấu từ 4,5%/năm tăng lên 6,0%/năm, tăng 1,5%/năm… đi kèm theo đó là việc Ngân hàng Nhà Nước phát hành 20300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc với 41 NHTM, kỳ hạn là 364 ngày, lãi suất là 7,80%/năm. Hệ quả tức thời của các tác động trên là dòng tiền VND bị chặn lại, gây ra hiện tượng khan hiếm tiền mặt, thừa USD giữa các NHTM. Chênh lệch lãi suất lớn giữa USD và VND nên các nhà đầu tư đ y mạnh việc bán USD chuyển qua VND : Lãi suất g i bằng VND tăng cao do việc NHNN tăng lãi suất cơ bản để kiềm chế lạm phát đồng thời các NHTM cũng chạy đua lãi suất huy động để thu hút tiền mặt nhằm đáp ứng yêu cầu mua tín phiếu bắt buộc từ NHNN. Sự kết hợp của các yếu tố trên đã đ y lãi suất VND cao hơn nhiều so với USD, thêm vào đó thì tỷ giá VND/ USD s t giảm nghiêm trọng, lãi suất cơ bản tại Mỹ s t giảm để kích thích nền kinh tế đang trong khủng hoảng làm cho dòng vốn lớn từ nước ngoài đổ vào Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài bán USD lấy VND rồi đem g i tiết kiệm, kiều bào nước ngoài cũng g i tiền về cho người thân ở Việt Nam để hưởng lãi suất. Những nguyên nhân nổi cộm trên đã tạo ra một áp lực tăng giá lớn lên VND dẫn đến sự s t giảm mạnh tỷ giá trong giai đoạn này. Giai đoạn 2 (từ 26/03 – 16/07): Tăng với tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do. Trong tháng 4/2008, tỷ giá USD/VND vẫn tiếp t c tăng lên, để ổn định tỷ giá, NHNN phải bán ngoại tệ can thiệp thị trường. Từ đầu tháng 5 có sự xáo động mạnh trong cung-cầu ngoại tệ trên thị trường, sau kỳ nghỉ lễ, giá USD bán ra của các NH bất ngờ tăng mạnh thêm 20 VND, đợt biến động mạnh thứ 2 sau đợt biến động mạnh từ 20 đến 31/3. Tỷ giá USD/VND vẫn tiếp t c tăng khiến lãi suất USD bước vào cuộc đua mới. Ở hầu hết các NHTM, giá USD tăng kịch trần, hết biên độ cho ph p, trên thị trường tự do, giá bán dao động xung quanh 17.100 – 17.500 VND/USD. Tính toán của Tổng c c Thống kê công bố cho thấy, trong tháng 5, giá USD tính theo VND đã tăng mạnh với 1,02% so với tháng trước đó. Đặc biệt trung tuần tháng 6/2008, cơn sốt USD bùng phát, có thời điểm giá chợ đen lên tới 19.000-19.800 VND/USD. Nguyên nhân là do: việc thắt chặt tiền tệ quá mức để kiềm chế lạm phát đã dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản trầm trọng trong hệ thống các NHTM. Vì thế 10/3/2008, NHNN cũng tung ra thị trường 33.000 tỷ đồng vay ngắn hạn; gấp 1,5 lần số lượng tiền định rút về qua tín phiếu bắt buộc, làm cho lạm phát tăng cao. Mặc dù NHNN đã ban hành cơ chế mới về điều hành lãi suất, nâng lãi suất cơ bản từ 8,75%/năm lên 12%/năm vào tháng 5, rồi sau đó tăng lên 14%/năm vào tháng 6, nhưng việc áp d ng trần lãi suất làm cho các NHTM không thể tăng lãi suất lên, lãi suất thực âm, lượng tiền huy động giảm sút như vậy làm trậm trọng hơn vấn đề lạm phát vì không thể hút tiền từ trong lưu thông về vì trong tình hình lạm phát cao. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2008 so với tháng 12/2007 đã tăng lên hai chữ số là 11,6%; gần bằng tốc độ của cả năm 2007 (12,63%). Lạm phát tháng 5 tiếp t c tăng 3,91%, cao nhất kể

12

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

từ đầu năm đến nay, đ y chỉ số tiêu dùng trong 5 tháng đầu năm lên đến 15,96%. Với tốc độ tăng giá tiêu dùng đã lên đến 15,96% trong 5 tháng đầu năm, tức là tăng trên 3%/tháng, trong khi lãi suất tiết kiệm chỉ khoảng trên dưới 1,2%/tháng, ngh a là tốc độ tăng giá tiêu dùng cao gấp 2,5 lần lãi suất tiết kiệm dẫn đến lãi suất tiền g i thực bị âm. Tâm lý lo sợ VND ngày càng mất giá, người dân không muốn g i tiền vào ngân hàng mà dùng đồng tiền để mua sắm, dự trữ,… Lạm phát tăng cao còn tạo ra một hệ l y là tình trạng găm giữ ngoại tệ, các nhà đầu tư nước ngoài rút một lượng lớn về nước ( bán ròng bán ròng 0,86 tỷ USD trái phiếu chính phủ). Thêm vào đó là tình hình nhập siêu quý I/2008 tới 7,3 tỷ USD do một phần nhiều nhà đầu tư chứng khoán chuyển vốn sang vàng, khiến cung tăng mạnh và doanh nghiệp vàng bạc đang phải huy động nhiều USD để nhập kh u vàng. Theo ước tính Việt Nam nhập trên 30 tấn vàng, gấp hơn 3 lần so với cùng kỳ hằng năm, nhu cầu ngoại tệ đối với nhập kh u tăng khá mạnh làm cho nguồn cung USD bị sức ép lớn. Đồng thời với tác động của việc giá USD liên t c tăng làm cho những DN khác dù chưa đến hạn thanh toán cũng yêu cầu mua USD để tránh rủi ro làm cho cầu USD tăng mạnh hơn. Giai đoạn 3 (từ 17/07 – 15/10): Giảm mạnh và dần đi vào bình ổn. Nhờ có sự can thiệp kịp thời của NHNN, cơn sốt USD đã được chặn đứng, tỷ giá giảm mạnh từ 19.400 đồng/USD xuống 16.400 đồng/USD và giao dịch bình ổn quanh mức 16.600 đồng trong giai đoạn từ tháng 8 – tháng 11. Nhận thấy tình trạng sốt USD đã ở mức báo động, lần đầu tiên trong lịch s , NHNN đã công khai công bố dự trữ ngoại hối quốc gia 20,7 tỷ USD khi các thông tin trên thị trường cho rằng USD đang trở nên khan hiếm giúp cải thiện tâm lý lo lắng nơi người dân, qua đó giảm bớt tình trạng găm giữ, đầu cơ ngoại tệ dẫn đến tỷ giá ổn định trong thời gian này. Lạm phát tháng 7/2008 đã tăng chậm lại ở mức tăng 1,13% so với tháng trước, lãi suất ổn định. Mức nhập siêu trong tháng 7 ước đạt 0,8 tỷ USD. Đồng thời lúc này, NHNN đã ban hành một loạt các chính sách nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ như kiểm soát chặt các đại lý thu đổi ngoại tệ (cấm mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do không đăng ký với các NHTM), cấm mua bán USD thông qua ngoại tệ khác để lách biên độ, cấm nhập kh u vàng và cho ph p xuất kh u vàng; bán ngoại tệ can thiệp thị trường thông qua các NHTM lớn. Giai đoạn 4 (từ 16/10/2008 đến hết năm 2008): tỷ giá USD tăng trở lại. Tỷ giá USDVND tăng đột ngột trở lại từ mức 16.600 lên mức cao nhất là 16.998 sau đó giảm nh . Giao dịch nằm trong biên độ tỷ giá. Tuy nhiên cung hạn chế, cầu ngoại tệ vẫn lớn. Sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá từ 2% lên 3% trong ngày 7/11/2008, tăng tới mức 17.440 đồng/USD. Nguyên nhân: Trong khoảng thời gian từ tháng 10 - tháng 11, nhà đầu tư nước ngoài đ y mạnh việc bán ra chứng khoán trong đó bán trái phiếu (700 triệu USD), cổ phiếu (100 triệu USD). Nhu cầu mua ngoại tệ của khối nhà đầu tư nước ngoài tăng cao khi muốn đảm bảo thanh khoản của tổ chức tại chính
13

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

quốc. Nhu cầu mua USD của các ngân hàng nước ngoài cũng tăng mạnh (khoảng 40 triệu USD/ngày).

Giá trị bán ròng của nhà đầu tư nước ngoài tại HaSTC từ 15/9 - 24/10 (nguồn dữ liệu: UBCKNN) Cầu USD trên thị trường tự do tăng cao bởi khi NHNN không cho ph p nhập vàng thì hiện tượng nhập lậu vàng gia tăng, làm tăng cầu USD để nhập kh u (do USD là đồng tiền thanh toán chính). NHNN bán hơn 1 tỷ USD cho các NHTM đáp ứng nhu cầu nhập kh u một số mặt hàng thiết yếu. 3.2. Diễn biến tỷ giá năm 2009 Tỷ giá VND/USD lại tiếp t c tăng đà tăng trong 4 tháng đầu năm, đặc biệt sau khi NHNN thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá lên +/-5% khiến cho tỷ giá ngoại tệ liên NH đã có đợt tăng đột biến và giao dịch trên TTTD tiến sát mức 18000đồng/USD. Trong bối cảnh nguồn ngoại tệ ròng vào VN là + trong 4 tháng đầu năm thì dường như yếu tố chính khiến cho tỷ giá VND/USD tăng mạnh lại là do sự nắm giữ ngoại tệ. Giai đoạn 1 (từ 01/01-24/11/2009) Tỷ giá li n t c t ng Tỷ giá biến động mạnh trên cả thị trường liên ngân hàng (LNH) và cả thị trường tự do c thể như sau : Từ tháng 1 đến tháng 3 : tỷ giá dao động trong khoảng 17.450 - 17.700 đồng/USD, cách giá trần khoảng từ 0-200 đồng, còn thị trường tự do cao hơn giá LNH khoảng 100 đồng. Nhìn chung từ đầu tháng 1/2009 đến giữa tháng 2/2009, tỷ giá VND/USD không có biến động mạnh - tăng giảm trong khoảng 17.480 đến 17.490 VND/USD - nguyên nhân phần lớn là do có sự can thiệp của nhà nước.

14

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

Tuy nhiên, vào những ngày đầu tháng 1/2009 nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ của doanh nghiệp đã giảm hẳn sau khi các NH áp d ng chương trình vay vốn được bù 4% lãi suất. Cơ chế bù lãi suất chỉ áp d ng cho các trường hợp vay vốn bằng VND, không áp d ng cho trường hợp vay vốn bằng USD. Các doanh nghiệp đã tính toán, vay USD vừa phải lo lắng về biến động tỉ giá lại không được bù lãi suất. Từ đó, doanh nghiệp đã dừng vay vốn bằng USD để chuyển sang vay VND, số đã vay đến hạn trả nợ, không vay thêm làm số dư vốn vay USD giảm. Đầu ra của USD ở nước ngoài bị thu h p dần. Như vậy, gói kích cầu đã làm cho cầu đồng nội tệ tăng vì các NHTM cần VND để cho vay theo nên lãi suất huy động VND tăng, làm cho giá VND tăng. Đồng thời, gói kích cầu cũng làm cho nhu cầu USD giảm, lãi suất huy động USD giảm, làm cho giá USD giảm. Nhưng, đến tuần thứ ba (16/2 – 20/2), tỷ giá lại biến động khá mạnh. Tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng vẫn không đổi, nhưng trên thị trường tự do tỷ giá VND/USD có nơi đã lên đến 18.000đ. Trong hệ thống ngân hàng đã xảy ra tình trạng thiếu USD, khiến cho nhiều người có nhu cầu không thể đổi được ngoại tệ. Mặt khác do việc chênh lệch tỷ giá giao dịch giữa ngân hàng và thị trường tự do đã khiến cho những người dân hay doanh nghiệp có USD không bán cho các ngân hàng mà bán trên thị trường tự do. Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội thuộ c Bộ KH-ĐT còn dự báo tỷ giá VND/USD có thể lên tới 18,500 VND/USD. Như vậy đã có chênh lệch khá cao giữa tỷ giá niêm yết và tỷ giá giao dịch phi chính thức. Nhiều khả năng sự chênh lệch này tiếp t c được duy trì, vấn đề này có thể buộc Ngân hàng Nhà nước có những chính sách nâng tỷ giá hoặc nới rộng biên độ trong thời gian tới. Trong thời gian tới, xu hướng dự báo tỷ giá có chiều hướng tăng, thậm chí tăng mạnh. Cùng với vàng, USD đang là một kênh đầu tư thu hút sự quan tâm của các tổ chức tài chính và các nhà đầu tư. Nhiều người dân chuyển từ VND sang cất giữ USD. Theo số liệu của Bloomberg, đồng USD tại châu Á đã ph c hồi trở lại, đạt mức 1 Euro bằng 1,2985 USD ở thời điểm 10h20 tại Tokyo.Chỉ số giá nhà sản xuất (PPI) tháng 12/2008 của khu vực EU công bố đã giảm còn 1,8% từ mức 3,3% trong tháng 11. Nguy cơ giảm phát cận kề đang gây áp lực cho Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) hạ thêm lãi suất đồng Euro đã khiến đồng tiền này khó lên giá so với USD. Trong nước, tỷ giá đồng USD được NH Nhà nước công bố tham khảo cho các ngân hàng đã được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tăng thêm 2 đồng/USD, ở mức 16.979 đồng. Trong sáng qua 4/2, NH Ngoại thương một lần nữa thu h p biên độ giá mua-bán bằng cách tăng thêm 5 đồng so với trước, lên 17.475 đồng/USD mua vào và bán ra vẫn giữ trần so với quy định của NH Nhà nước:17.488 đồng. Đây là NH đầu mối trong cả nước, tình hình cung cầu tại các NH vẫn chưa được cải thiện khi phần lớn các NH thương mại đang niêm yết giá mua- bán cùng một giá: 17.488 đồng/USD.Trên thị trường tự do, giá mỗi USD chợ đen ở Hà Nội lên mức 17.720 đồng (bán ra), đắt hơn 50 đồng so với ngày trước đó, giá mua vào 17.680 đồng (tăng 40 đồng). Khách đến giao dịch khá tấp nập. Tại một số c a hàng vàng trên phố Trần Nhân Tông, Cầu Gỗ còn có trường hợp chủ tiệm chỉ mua vào chứ không bán ra.
15

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

Nhiều phân tích cho thấy, giá USD tự do tăng mạnh trong hai ngày gần đây chủ yếu là do tâm lý. Những dự báo nguồn cung ngoại tệ có thể bị thu h p lại do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, các yếu tố chưa khả quan về triển vọng đầu tư nước ngoài và thị trường chứng khoán, trong khi nhu cầu nắm giữ USD đang cao cũng đ y tỷ giá lên. Giới quan sát nhận định, tỷ giá còn tăng trong quý I khi các doanh nghiệp nhập kh u có nhu cầu về USD tăng để giao thương bởi đây là thời gian hoạt động nhập kh u diễn ra mạnh so với những tháng còn lại. Ngày 18/3/2009, Thống đốc NHNN Việt Nam có công văn số 1819/NHNN-QLNH về việc chấn chỉnh hoạt động mua bán ngoại tệ. Thống đốc yêu cầu: Thứ nhất, các Tổ chức tín d ng được phép hoạt động ngoại hối không được s d ng kết hợp các công c phái sinh nhằm m c đích mua bán đô la Mỹ giao ngay với tỷ giá cao hơn trần biên độ do NHNN quy định. Thứ hai, Thanh tra NHNN tăng cường kiểm tra, thanh tra việc tuân thủ các quy định về hoạt động mua bán ngoại tệ kể từ ngày 18/3/2009 và x lý nghiêm các hành vi vi phạm. Tỷ giá đồng USD trên thị trường liên ngân hàng do đang còn giữ trần so với quy định của NHNN nên có những điều chỉnh giá giảm cùng tỷ giá tham khảo. Phần lớn các ngân hàng hiện nay vẫn giữ giá mua ngang với giá bán xuống quanh mức 17.482 đồng. Rất nhiều ngân hàng đang trong tình trạng khan hiếm USD khi nhiều khách hàng muốn mua USD sẽ phải chờ đợi thanh toán theo hợp đồng. Nguồn cung USD cho thị trường trong nước hiện nay đang rất khó khăn khi tình hình xuất nhập kh u rất xấu. Đồng USD trên thị trường tự do sau khi giảm ở phiên đầu tuần đã tăng mạnh trong ngày hôm qua do nhu cầu về USD tăng đột biến, các điểm trao đổi ngoại tệ rất sôi động mà chủ yếu là khách mua vào. Theo giám đốc một công ty chứng khoán cho biết, những ngày qua rất nhiều nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán rút vốn chuyển sang mua USD tích trữ đầu tư. Hơn nữa, hoạt động bán ra chốt lời vàng diễn ra rất mạnh của các nhà đầu tư trong nước khi giá tăng mạnh những ngày qua, một lượng tiền mặt nhàn rỗi nữa được đổ vào USD. Nhu cầu tăng đột biến khiến đồng USD bên ngoài "chợ đen" tăng tốt, còn giữ giá cao. Cầu mua USD đã và đang tăng mạnh, khả năng USD thị trường tự do có thể tăng trên 18,000 đồng/USD. Một số thông tin đồn xung quanh khả năng NHNN sẽ nới rộng biên độ tỷ giá cũng nâng đỡ cho thị trường giữ giá cao. Trong phiên sáng ngày 20/3/2009, đồng USD trên thị trường tự do còn giữ biên độ trung bình trên cả nước: 17,600-17.700 đồng. Trong những ngày sau đó người dân đem đôla dự trữ đi bán trên thị trường chợ đen do lo ngại giá sẽ xuống thấp trong tương lai gần. Động thái này đã góp phần làm giá đôla giảm nh trong những ngày ngày này. Từ tháng 4 đến tháng 9 : tỷ giá thị trường dao động trong khoảng 18.180-18.500 đồng/USD.

16

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

Từ cuối tháng 3/2009, tỷ giá bình quân liên ngân hàng bắt đầu giảm mạnh, có ngày giảm gần 10 VND. Đây được xem là một sự điều chỉnh “cân đối” với chính sách biên độ mới, khi từ ngày 24/3/2009 Ngân hàng Nhà nước bắt đầu nới biên độ từ +/-3% lên +/-5%. Từ cuối tháng 7 trở lại đây, tỷ giá bình quân liên ngân hàng bắt đầu tăng trở lại; hiện vẫn thấp hơn so với những ngày cuối năm 2008, nhưng do có biên độ lớn hơn nên giá USD của các ngân hàng đã lên mức cao nhất từ trước tới nay. Trong suốt những biến động từ đầu năm, hầu hết ở các thời điểm tỷ giá USD/VND của các ngân hàng thương mại đều ở sát trần biên độ cho ph p; việc đ y giá mua vào bằng đúng giá bán ra cũng đã k o dài kể từ ngày 11/6/2009 trở lại đây. Trong báo cáo tổng kết thị trường trong tuần này, Ngân hàng Nhà nước tiếp t c duy trì thông điệp “đang tiếp t c theo dõi sát diễn biến thị trường, điều hành tỷ giá ổn định, áp d ng các biện pháp can thiệp thích hợp để thị trường ngoại hối hoạt động tích cực hơn”. Trong tháng 8/2009, theo thông tin từ lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, tình hình cung – cầu ngoại tệ trên thị trường đã bớt căng thẳng; doanh nghiệp và người dân cũng đã bắt đầu bán ra USD thay vì chủ yếu găm giữ trước đó. Nhu cầu vay ngoại tệ của doanh nghiệp cũng đã tăng lên. Trong tháng 7 và 8 vừa qua, tăng trưởng tín d ng bằng ngoại tệ (chủ yếu bằng USD) đã tăng khá nhanh; lần lượt tăng 1,2% và 1,52%. Lãi suất huy động USD từ cuối tháng 8 đến nay cũng đã tăng khá mạnh; một số ngân hàng đã đ y mức cao nhất lên đến 4% - 4,15%/năm. Theo số liệu của Tổng c c Thống kê, chỉ số giá USD tháng 8/2009 đã tăng 6,36% so với tháng 12/2008, tăng 8,95% so với cùng kỳ năm 2008. Từ tháng 10 đến 25/11/2009 : biến động tỷ giá rất mạnh từ 18.54519.300đồng/USD, có lúc đạt đỉnh 20.000đồng/USD trên thị trường tự do và 19.750đồng/USD trên thị trường liên ngân hàng. Trong những ngày cuối tháng 9 và đầu tháng 10 năm 2009, tỷ giá hối đoái trên thị trường tự do vẫn xoay quanh mức 18.300 - 18.350 VND/USD, không thay đổi nhiều so với các tháng trước đó khi mà nhu cầu USD của DN nhập kh u gia tăng. Các ngân hàng thương mại cũng điều chỉnh tăng giá USD kịch trần biên độ cho ph p. Trong khi đó, tỷ giá tại chợ đen lại “khá bình thản” và chỉ quanh qu n ở mức 18.230 – 18.300 đồng cho một USD (mua – bán) trong hai ngày 13 và 14/10.. Tỷ giá liên ngân hàng do NHNN công bố ngày 13/10 là 17.003 đồng, trong khi ngày 30/ 9 chỉ ở mức 16.991 đồng cho một USD. Đến cuối tháng 9, tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã tăng 0,08% so với cuối năm 2008. Trong ngày 14/10, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được công bố là 17.002 đồng, giá mua và bán USD tại các ngân hàng thương mại được NHNN cập nhật là 17.852 đồng, lùi 1 đồng so với hôm 13/10 nhưng vẫn ở mức cao kỷ l c. Lần đầu tiên tỷ giá bình quân liên ngân hàng chạm mốc 17.000 đồng vào ngày 10/10 vừa qua, với các mức tăng 2 – 3 đồng liên tiếp từ cuối tháng 9.

17

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

Theo công bố từ Bộ Tài Chính, tỷ giá hạch toán ngoại tệ tháng 11 đồng Việt Nam với đôla Mỹ (USD) chính thức phá ngưỡng 17.000 đồng, lên 1 USD = 17.002 đồng. Theo đó, đây là mức tỷ giá hạch toán ngoại tệ cao nhất từ đầu năm đến nay và chính thức phá ngưỡng 17.000 đồng/USD. Tỷ giá đồng USD/VNĐ được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố tham khảo cho các ngân hàng phiên ngày 25/11 là: 17.034 đồng, tăng mạnh 4 đồng/USD so với tỷ giá công bố ở phiên ngày hôm qua. Đã rất lâu NHNN không có bước giá điều chỉnh tăng tới 4 đồng/USD sau một phiên. Như vậy chỉ trong hai ngày công bố tham khảo NHNN đã tăng liên t c thêm 7 đồng với mức tăng lần lượt là 3 đồng cho ngày 24/11 và 4 đồng cho ngày 25/11. Sau đợt phá giá này với xu hướng giá tăng mạnh và rất vững của tỷ giá trên thị trường chính thức này đang có những tác động không nhỏ đến tâm lý thị trường, nhà đầu tư và người dân khi đồng nội tệ ngày càng mất giá mạnh so với USD. Nguyên nhân Hiện tượng nắm giữ ngoại tệ chờ giá lên của người dân. Có hiện tượng doanh nghiệp vay USD tuy chưa đến kỳ trả nợ nhưng họ đã mua s n USD để giú vì sợ tỷ giá tăng. Chính lượng đặt mua nhiều của doanh nghiệp khiến cầu ngoại tệ tăng. Ngoài ra, do tâm bất ổn của cả doanh nghiệp và người dân khi tỷ giá tăng nhanh dẫn đến hiện tượng nắm giữ ngoại tệ. Do tác động của chính phủ hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp bằng tiền đồng, do lãi suất vai thấp, phạm vi và thời gian vay được mở rộng theo chủ trương của chính phủ nên một số doanh nghiệp có ngoại tệ có xu hướng không muốn bán ngoại tệ mà chỉ muốn vay tiền đồng. Đây là 1 tác động thiếu tích cực không mong muốn khi triên khai gói kích cầu Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác : thâm h t cán cân thương mại vào cuối năm 2008, yếu tố tin đồn,… Giai đoạn 2 (từ 25/11 đ n h t 2009) Tỷ giá bắt đầu gi m về quanh m c 18.500đồng/USD. Đây là khác biệt hiếm thấy của tỷ giá bình quân liên ngân hàng trong những năm gần đây, có từ sau quyết định điều chỉnh biên độ từ +/-5% xuống +/-3% và tăng trực tiếp thêm 5% (từ 17.034 VND lên 17.961 VND) vào ngày 26/11 vừa qua của Ngân hàng Nhà nước. So với mức 17.961 VND của ngày 26/11, tỷ giá này đã giảm 20 VND. Tính chung từ đầu năm, tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã tăng 5,7%. Tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại theo niêm yết cũng đứng yên trong thời gian trên. Giá USD bán ra giữ ở mức 1 USD = 18.479 VND, kịch trần biên độ cho ph p. Đáng chú ý là sau điều chỉnh từ ngày 26/11/2009,

18

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

giá USD mua vào và bán ra của các ngân hàng thương mại cũng đã có chênh lệch trong khoảng 4 – 5 VND, thay cho các mức ngang nhau k o dài trước đó. Nguyên nhân : ngân hàng nhà nước thực hiện các biện pháp bình ổn tỷ giá, đặt biệt có sự góp sức của các ngân hàng thương mại đã làm giảm tỷ giá sau một thời gian biến động. 3.3. Diễn biến tỷ giá năm 2010 BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ CÁC THÁNG ĐẦU NĂM 2010

Giá USD đã tăng khá mạnh trong 2 năm 2008 và 2009, sang đến tháng 1.2010 lại giảm nh và tiếp t c dao động quanh mức 18.479 đồng/USD cho đến giữa tháng 2/2010.Nguyên nhân là do: + Nguồn cung USD có thể sẽ tăng khá do đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp tăng( đầu tư trực tiếp tháng 1 tăng 33,3%); vốn hỗ trợ phát triển chính thức do năm trước cam kết, ký kết đạt mức kỷ l c; nguồn kiều hối từ Việt kiều và người lao động nước ngoài gia tăng; Nguồn thu từ khách quốc tế đến Việt Nam gia tăng trở lại (tháng 1 tăng 20,4%); Kim ngạch xuất kh u chuyển từ tăng trưởng âm sang tăng trưởng dương…Bên cạnh đó, các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng, làm giảm sức p tâm lý lo sợ rủi ro tỷ giá nên tình trạng găm giữ USD giảm đáng kể. + Ngân hàng Nhà nước đã có những giải pháp để giảm sức p tăng tỷ giá, như: Tăng tỷ giá liên ngân hàng đồng thời với việc giảm biên độ giao dịch từ ±5% xuống còn ±3%; Yêu cầu các tập đoàn và tổng công ty lớn của nhà nước bán lại ngoại tệ cho ngân hàng; Bán ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại có trạng thái dưới 5%; Hạ 3% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền g i USD… - Ngày 11/02 Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ mức 17.941 VNĐ/USD lên mức 18.544 VNĐ/USD. Nguyên nhân: + Thứ nhất, ngày 30/12/2009, với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước chính thức ban hành thông tư hướng dẫn việc các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán lại ngoại tệ cho các ngân hàng. Việc bán lại được thực hiện khá nhanh sau đó và tạo một nguồn cung đáng kể, hỗ trợ các ngân hàng cải thiện trạng thái ngoại tệ vốn căng thẳng trước đó.
19

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

+ Thứ hai, chỉ hơn n a tháng sau đó, ngày 18/1/2010, Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 74/QĐ-NHNN giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín d ng. Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng đã làm tăng nguồn vốn khoảng 500 triệu USD (9.000 tỷ đồng) cho các ngân hàng thương mại để cho vay trên thị trường. + Thứ ba, ngay sau đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp t c ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN, quy định mức lãi suất tiền g i tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín d ng là 1%/năm(mức lãi suất tối đa mà các NHTM đang áp d ng là 4,5%/năm).Lãi suất g i USD giảm buộc các DN sẽ phải so sánh lợi ích giữa găm giữ USD trên tài khoản hay chuyển đổi thành VND thì có lợi hơn, để từ đó tự nguyện bán USD cho NH. Khi tỉ giá trong và ngoài thị trường chính thức không chênh lệch nhiều nữa thì nguồn cung USD cho NH cũng sẽ tăng lên. Kết hợp với chính sách này, các NHTM đồng loạt tăng giá USD mua vào để thu hút nguồn ngoại tệ tiềm năng này.

- Chiều 17/8, Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng mạnh tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng. Mức mới được áp d ng cho ngày 18/8/2010. Thông báo của Ngân hàng Nhà nước cho biết, nhằm góp phần kiềm chế nhập siêu, ngày 17/8/2010, cơ quan này thực hiện điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam với Đô la Mỹ áp d ng cho ngày 18/8/2010 từ mức 18.544 VND lên mức 18.932 VND (tăng gần 2,1%). Trong khi đó biên độ tỷ giá giữ nguyên ở mức +/-3%. Với sự điều chỉnh trên, với biên độ +/-3%, mức trần tỷ giá USD/VND mà các ngân hàng thương mại có thể giao dịch trong ngày 18/8/2010 sẽ ở mức 19.500 VND (làm tròn số), thay cho mức tối đa 19.100 VND trước đó. Theo quy luật “cung cầu và giá cả”, một lý do chính để giá USD tăng là nguồn cung bớt trù phú. Nhưng nay, các ngân hàng không kêu khó mua USD thì cớ sao giá USD lại tăng như trên, sau 3 tháng ròng (4, 5, 6) chỉ loanh quanh mốc 19.000 VND/USD? Nguyên nhân là do chênh lệch lãi suất vay vốn bằng VND và USD lớn khiến các doanh nghiệp cân nhắc và dịch chuyển sang vay USD. Lãi suất vay VND tăng cao đầu năm 2010, lên từ 15% -

20

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

17%, thậm chí 18%/năm…, trong khi lãi suất vay USD chỉ khoảng 6% 9%/năm. Thêm vào đó, ngày 15/12/2009, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 25/2009/TT-NHNN mở rộng đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ, đặc biệt là các đối tượng xuất kh u và nhập kh u.Tác động này được dẫn chứng ở tăng trưởng tín d ng bằng ngoại tệ đã tăng đột biến tới 14,07% trong quý 1/2010, trong khi cùng kỳ năm ngoái giảm 2,24%. Thông thường, đối tượng vay ngoại tệ có hai nhóm chính là nhập kh u và xuất kh u. Những nhà nhập kh u khi vay ngoại tệ, lẽ ra ngày hôm nay phải thanh toán một L/C thì thay vì mua ngoại tệ, nhà nhập kh u lại vay ngoại tệ để thanh toán, giả định thời hạn vay là 3 tháng thì cầu ngoại tệ trả nợ ngân hàng của nhà nhập kh u trên thay vì bị áp lực tại ngày hôm nay đã bị đ y lùi lại để hiện lên 3 tháng sau đó. Còn đối với nhà xuất kh u, nếu dòng ngoại tệ của họ trở về vào 3 tháng tới thì ngày hôm nay họ vay ngoại tệ, bán lấy VND thu mua hàng hóa trước và đợi 3 tháng tới khi ngoại tệ về trả nợ ngân hàng. Như vậy, dư nợ ngoại tệ tác động lên cả hai yếu tố cung và cầu của tỷ giá theo hai xu hướng bất lợi: tăng cung hiện tại - giảm cung tương lai; giảm cầu hiện tại - tăng cầu tương lai. Khi cả cung và cầu đều không thuận thì tỷ giá căng thẳng thật dễ hiểu. Đến đây, chuyện tỷ giá tự do tăng có v như lại bắt nguồn từ con số tăng trưởng dư nợ tín d ng ngoại tệ 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ lên tới 24% một mức tăng khá nóng. 4. Xu h ớng lựa chọn chính sách tỷ giá của Việt Nam trong thời gian tới:  Chính sách tỷ giá phải góp phần tạo sự ổn định cho thị trường tiền tệ Việt Nam theo ngh a dưới tác d ng của cung – cầu ngoại tệ của thị trường ngoại hối tỷ giá đạt trạng thái cân bằng di động, dưới tác động của cung – cầu tiền, lãi suất nội tệ đạt trạng thái cân bằng, tương tác giữa lãi suất cơ bản và tỷ giá cân bằng di dộng được sự can thiệp từ nguồn ngoại hối dự trữ của NHNN, duy trì được cơ chế này tức là duy trì sự ổn định của thị trường tiền tệ.  Góp phần tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam không chỉ trên thị trường quốc tế mà còn ngay cả ở trên thị trường trong nước. Một chính sách tỷ giá như thế tạo ra các lợi thế để tài khoản vãng lai từ thâm h t đến cân bằng và đi đến thặng dư một cách vững chắc.  Tạo điều kiện các dòng vốn ngoại tệ đầu tư vào Việt Nam không chỉ ổn định mà còn thường xuyên tăng trưởng, tạo niềm tin nơi nhà đầu tư về một thị trường Việt Nam rất ít rủi ro. Từ đó tài khoản vốn sẽ phát huy được tối đa trạng thái thặng dư của mình tạo thế vững chắc cho cán cân thanh toán.  Tạo nên kỳ vọng hợp lý của thị trường trên cơ sở các thông tin về các chỉ số cơ bản của nền kinh tế được công bố công khai.  Đồng thời tạo điều kiện từng bước cho đồng Việt Nam chuyển đổi được và không tạo thêm gánh nặng lên các khoản nợ quốc gia. Mặt khác, phải góp phần tăng dự trữ ngoại tệ để NHNN can thiệp trên thị trường ngoại hối.  Phải được sự trợ lực của các công c phòng chống rủi ro tỷ giá hối đoái. Cần nhanh chóng triển khai mở rộng các công c mới như quyền chọn (option), hợp đồng tương lai (future), kể cả các nghiệp v trên thị trường tiền tệ như
21

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

hoán đổi lãi suất (interest Rate Swap). Nhằm nâng cao tính thanh khoản thị trường ngoại hối, nhưng quan trọng hơn đó là công c đo được kỳ vọng của thị trường, tín hiệu mà từ đó NHNN có thể can thiệp kịp thời.  Phối hợp đồng bộ các chính sách kinh tế v mô: hoàn chỉnh cơ chế quản lý giao dịch ngoại hối và cơ sở pháp lý cho việc điều hành thị trường ngoại tệ. Đưa dần các công c quản lý thị trường trên thế giới vào áp d ng thực tiễn. Bên cạnh đó, hiện đại hóa hệ thống các tổ chức cần xúc tiến với m c tiêu phát triển thị trường tài chính nói chung để nâng cao năng lực, mở rộng phạm vi điều chỉnh v mô của nhà nước.  Điều hành tỷ giá xuất phát từ lợi ích chung của nền kinh tế tại một thời điểm phải xác định rõ yếu tố nào cần ưu tiên và yếu tố nào có thể hy sinh để đạt lợi ích tổng thể tối đa. Ví d , quyết định tăng giá nội tệ để giảm nh sức ép trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp (chính phủ) và chấp nhận sự suy giảm tạm thời đối với xuất kh u nếu đều này ít tạo khó khăn hơn cho nền kinh tế.  Không ngừng nâng cao uy tín VND trên cơ sở duy trì sự tương quan hợp lý giữa giá trị đối nội và đối ngoại của nội tệ, hướng tới m c tiêu đồng Việt Nam có khả năng chuyển đổi. Một đồng tiền mất uy tín tất yếu làm thương tổn đến tích lũy, đầu tư nội địa, tăng nguy cơ lạm phát, tạo điều kiện cho hội chứng “ngoại tệ hóa”.  Đấu tranh có hiệu quả với hiện tượng đầu cơ, tích trữ và kiều chế tác động xấu của thị trường ngoại tệ chợ đen. *Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách điều hành tỷ giá  Phân tích tình hình kinh tế thế giới, khu vực và trong nước để đề ra được chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp cho từng giai đoạn.  Hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối ở Việt Nam: nới lỏng tiến tới tự do hóa trong quản lý ngoại hối, hoạt động này bao gồm việc giảm dần tiến tới loại bỏ sự can thiệp của NHNN trong việc xác định tỷ giá, xóa bỏ các quy định mang tính hành chính trong kiểm soát ngoại hối, thiết lập tính chuyển đổi cho đồng tiền Việt Nam, s d ng linh hoạt và hiệu quả các công c quản lý tỷ giá, nâng cao tính chủ động trong kinh doanh của các NHTM.  Hoàn thiện thị trường ngoại hối Việt Nam để tạo điều kiện cho việc thực hiện chính sách ngoại hối có hiệu quả bằng các mở rộng thị trường ngoại hối để các doanh nghiệp, các định chế tài chính phi NH tham gia thị trường ngày một nhiều, tạo thị trường hoàn hảo hơn, nhất là thị trường kỳ hạn và thị trường hoán chuyển để các đối tượng kinh doanh có liên quan đến ngoại tệ tự bảo vệ mình.  Thực hiện chính sách đa ngoại tệ: hiện nay mặc dù USD có vị thế mạnh hơn các ngoại tệ khác, song trong quan hệ tỷ giá chỉ áp d ng một loại ngoại tệ trong nước sẽ làm cho tỷ giá ràng buộc vào ngoại tệ đó c thể là USD. Khi có sự biến động về tỷ giá USD trên thế giới lập tức sẽ ảnh hưởng đến quan hệ tỷ giá của USD và VND mà thông thường là những ảnh hưởng bất lợi.  Ta nên chọn những ngoại tệ mạnh để thanh toán và dự trữ, bao gồm một số đồng tiền của những nước mà chúng ta có quan hệ thanh toán, thương mại và có quan hệ đối ngoại chặt chẽ nhất để làm cơ sở cho việc điều chỉnh tỷ giá của VND. Ví d như đồng EUR, JPY, … chế độ tỷ giá gắn với một rổ ngoại tệ như vậy sẽ làm tăng tính ổn định của tỷ giá hoái đoái danh ngh a.
22

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

 Nâng cao vị thế đồng tiền Việt Nam bằng các giải pháp kích thích nền kinh tế, tạo khả năng chuyển đổi từng phần cho đồng tiền Việt Nam, đồng tiền tự do chuyển đổi làm giảm sự can thiệp trực tiếp của chính phủ vào chính sách quản lý ngoại hối và cơ chế điều hành tỷ giá, giúp cho tốc độ chu chuyển vốn được đ y mạnh góp phần đ y nhanh tiến độ hội nhập kinh tế thế giới.  S d ng có hiệu quả công c lãi suất để tác động đến tỷ giá, chính phủ phải tiến hành từng bước tự do hóa lãi suất, làm cho lãi suất thực là một loại giá cả được quyết định bởi chính sự cân bằng giữa cung và cầu của chính đồng tiền đó trong thị trường chứ không phải bởi những quyết định can thiệp hành chính của chính phủ.  Phối hợp các chính sách kinh tế v mô để hoạt động can thiệp vào tỷ giá đạt hiệu quả cao. Chú trọng hoàn thiện công c nghiệp v thị trường mở nội tệ. Chính sách tiền tệ được thực hiện qua ba công c : lãi suất tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc và nghiệp v thị trường mở nội tệ. Tuy nhiên, nghiệp v thị trường mở nội tệ là công c quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp đến lượng tiền cung ứng, vì vậy nó quyết định đến sự thành bại của chính sách tiền tệ quốc gia. Bên cạnh đó nó còn tham gia tích cực vào việc hỗ trợ chính sách tỷ giá khi cần thiết.  Xem phá giá nhỏ như một biện pháp kích thích xuất kh u, giảm thâm h t cán cân thương mại: khuyến khích xuất kh u, hạn chế nhập kh u, s d ng đầy đủ hơn các nguồn lực hiện có, làm tăng việc làm, s d ng và thu nhập của nền kinh tế trong khi vẫn kiềm chế được lạm phát ở mức thấp.  Nhanh chóng thực hiện các công c phòng ngừa rủi ro. Trong điều kiện tỷ giá hiện nay tiềm tàng nhiều nhân tố bất ổn chúng ta cần gấp rút triển khai các công c phòng ngừa rủi ro. Chính phủ đã cho ph p các NHTM thực hiện các công c phòng ngừa rủi ro tỷ giá như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn tiền tệ. Vấn đề là các NHTM và doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp xuất nhập kh u và doanh nghiệp có thu chi bằng ngoại tệ phải nhanh chóng s d ng các công c này để phòng ngừa rủi ro tỷ giá.  Tóm lại, việc xác định một tỷ giá phủ hợp đối với từng giai đoạn phát triển của một quốc gia có tác động rất lớn đến xuất nhập kh u hàng hóa, xuất nhập kh u tư bản và giá cả hàng hóa trong nước. Trong thời gian qua chính sách tỷ giá hối đoái ở nước ta đã góp những thành tựu đáng kể trong chính sách tài chính-tiền tệ như: lạm phát được hạn cheed, thực hiện m c tiêu hỗ trợ xuất kh u, cải thiện cán cân thanh toán, tạo điều kiện ổn định ngân sách, ổn định tiền tệ. Tuy nhiên trong việc điều chỉnh tỷ giá, nhà nước vẫn thiếu những giải pháp hữu hiệu trong từng giai đoạn để s d ng công c tỷ giá một cách phù hợp. Như vậy phải có m c tiêu và định hướng rõ ràng để có giải pháp thích hợp. Hy vọng rằng trong thời gian tới việc quản lý, điều hành chính sách tỷ giá ở Việt Nam sẽ có những bước cải tiến đáng kể đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới.

23

LỚP T05- NHÓM14

GV: Nguyễn Thị Hồng Vinh

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Văn Tiến, ( 2010). Giáo trình tài chính quốc tế, NXB thống kê. PGS.TS Trần Ngọc Thơ, PGS.TS Nguyễn Ngọc Định. Giáo trình tài chính quốc tế, NXB Thống kê. Đi tìm nguyên nhân thực của http://atpvietnam.com/vn/thongtinnganh/48283/index.aspx Tỷ giá 2009: Tăng trong vòng kiểm soát? http://www.msb.com.vn/g-tin-tuc-su-kien/b-tai-chinh-ngan-hang/ty-gia-2009-tangtrong-vong-kiem-soat/ Tỷ giá USD/VND với những diễn biến trái http://doanhnhantimes.com/S42N3428/Ty-gia-USD-VND-voi-nhung-dien-bien-traichieu.html chiều căng thẳng tỷ giá

Diễn biến tỷ giá 10 tháng năm 2009 và tác động tới điều hành chính sách tiền tệ - Từ chính sách điều hành tỷ giá của Úc nhìn về Việt Nam http://www.ssc.gov.vn/portal/page/portal/ubck/anpham?m_action=2&m_typeid=164 &m_year=2009&m_itemid=14648&m_magaid=1332&m_category=444 Diễn biến giá USD năm 2008 và dự báo cho năm 2009 http://atpvietnam.com/vn/thongtinnganh/24339/index.aspx Tỷ giá USD/VND: Một năm nhìn lại và dự đoán năm 2009 http://www.doanhnhan360.com/Desktop.aspx/Thi-truong-360/Tai-chinh360/Ty_gia_USDVND_nhin_lai_va_du_doan_2009/ Điều hành chính sách tỷ giá năm 2008 và phương hướng năm 2009 http://luattaichinh.wordpress.com/2009/02/26/di%E1%BB%81u-hanh-chinh-sacht%E1%BB%B7-gia-nam-2008-va-ph%C6%B0%C6%A1ng-h%C6%B0%E1%BB%9Bngnam-2009/ Lựa chọn chính sách tỷ giá http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/nganhang/17651/ Lựa chọn nào cho việc điều hành tỷ giá? http://nganhang.anet.vn/nganhang/lua-chon-nao-cho-viec-dieu-hanh-ty-gia/v1712 http://www.wattpad.com/260027-cac-yeu-to-anh-huong-den-ty-gia-hoi-doai

24

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful